Skip to main content
Dự thảo 2: Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

QUỐC HỘI

--------

Luật số: /20 /QH14

(Dự thảo 2)

Ngày 29-3-2019

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LUẬT

HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

1. Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản, phạm vi, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; tổ chức, hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên, Đối thoại viên; trình tự, thủ tục, xử lý kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Phạm vi hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự), khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc.

Luật này không điều chỉnh các hoạt động hòa giải, đối thoại đã được luật khác quy định.

2. Luật này quy định cơ chế pháp lý độc lập về hòa giải, đối thoại để giải quyết hiệu quả các tranh chấp, khiếu kiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm giá trị và hiệu quả thi hành kết quả hòa giải, đối thoại; góp phần hàn gắn những bất đồng, rạn nứt, ngăn ngừa các tranh chấp, khiếu kiện trong tương lai, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trung tâm Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án (sau đây gọi tắt là Trung tâm Hòa giải, Đối thoại) là Trung tâm được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Luật này.

2. Hòa giải viên, Đối thoại viên là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện, được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm để tiến hành hòa giải vụ việc dân sự, đối thoại khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này. Hòa giải viên, Đối thoại viên không thuộc biên chế của Tòa án.

3. Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải trước khi Tòa án thụ lý vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, do Trung tâm Hòa giải, Đối thoại, Hòa giải viên thực hiện nhằm hỗ trợ các bên thỏa thuận, thống nhất giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này.

4. Đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại trước khi Tòa án thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, do Trung tâm Hòa giải, Đối thoại, Đối thoại viên thực hiện nhằm hỗ trợ các bên thống nhất giải quyết quan hệ pháp luật hành chính có tranh chấp theo quy định của Luật này.

5. Hòa giải thành là thông qua hòa giải các bên tự nguyện thỏa thuận, thống nhất về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ việc dân sự; người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

6. Đối thoại thành là thông qua đối thoại các bên tự nguyện thống nhất về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ khiếu kiện hành chính; người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

7. Các bên tham gia hòa giải là các bên tranh chấp, yêu cầu về dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có).

8. Các bên tham gia đối thoại là cá nhân, tổ chức, cơ quan hành chính nhà nước trong khiếu kiện hành chính và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có).

Điều 3. Nguyên tắc hòa giải, đối thoại

1. Các bên tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại.

2. Nội dung thỏa thuận hòa giải, đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

3. Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 Luật này.

4. Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính.

5. Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có người phiên dịch.

Điều 4. Bảo mật thông tin

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng ý trước của bên đã cung cấp thông tin.

2. Không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại, trừ trường hợp lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 32 của Luật này và ghi chép của Hòa giải viên, Đối thoại viên phục vụ cho việc tiến hành hòa giải, đối thoại.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ chống lại họ trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bên trình bày đồng ý sử dụng lời trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ;

b) Theo quy định của luật.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này thì bị xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này và quy định chi tiết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 5. Chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án

1. Khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

2. Khuyến khích những người đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Luật này làm Hòa giải viên, Đối thoại viên.

3. Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Điều 6. Kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án

1. Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

2. Kinh phí cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án do Chính phủ trình Quốc hội quyết định sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao.

3. Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi cho công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại

1. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại có quyền sau đây:

a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại;

b) Yêu cầu Hòa giải viên, Đối thoại viên giữ bí mật những thông tin do mình cung cấp;

c) Bày tỏ ý chí, thỏa thuận về nội dung hòa giải, đối thoại;

d) Yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành;

đ) Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành.

2. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại có nghĩa vụ sau đây:

a) Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc theo yêu cầu của Hòa giải viên, Đối thoại viên;

b) Chịu trách nhiệm về tính xác thực của các tài liệu, chứng cứ cung cấp trong quá trình hòa giải, đối thoại, khi yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Trường hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ không đúng sự thật thì thỏa thuận hòa giải thành, đối thoại thành đương nhiên vô hiệu; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;

c) Có mặt hoặc ủy quyền cho người khác tham gia phiên hòa giải, đối thoại theo giấy báo (trừ trường hợp hòa giải quan hệ hôn nhân trong vụ việc ly hôn);

d) Tôn trọng Hòa giải viên, Đối thoại viên và các bên có liên quan;

đ) Chấp hành quy chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

e) Thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành.

3. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

Điều 8. Lệ phí công nhận kết quả hòa giải thành, lệ phí công nhận kết quả đối thoại thành

1. Người yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành phải nộp lệ phí công nhận kết quả hòa giải thành, lệ phí công nhận kết quả đối thoại thành. Mức lệ phí công nhận kết quả hòa giải thành, lệ phí công nhận kết quả đối thoại thành bằng 50% mức lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Áp dụng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thu nộp, các trường hợp không phải nộp, miễn, giảm lệ phí Tòa án đối với lệ phí công nhận kết quả hòa giải thành, lệ phí công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án.

Chương II

TRUNG TÂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI

VÀ HÒA GIẢI VIÊN, ĐỐI THOẠI VIÊN

Mục 1

TRUNG TÂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI

Điều 9. Địa vị pháp lý của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Trung tâm Hòa giải, Đối thoại do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập theo quy định tại Điều 13 của Luật này.

2. Trung tâm Hòa giải, Đối thoại chịu sự quản lý trực tiếp của Tòa án nơi đặt Trung tâm.

3. Các văn bản của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại do Giám đốc, Phó Giám đốc ký được sử dụng con dấu của Tòa án.

Điều 10. Nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Tổ chức thực hiện hòa giải vụ việc dân sự, đối thoại khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.

2. Báo cáo về hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

3. Quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên; tổ chức cho Hòa giải viên, Đối thoại viên tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

4. Lưu trữ hồ sơ, kết quả hòa giải, đối thoại.

5. Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Điều 11. Tổ chức của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Trung tâm Hòa giải, Đối thoại có Giám đốc, Phó Giám đốc, Hòa giải viên, Đối thoại viên.

2. Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại là Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nơi đặt Trung tâm; Phó giám đốc Trung tâm là một Thẩm phán do Chánh án Tòa án nơi đặt Trung tâm phân công. Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm kiêm nhiệm có thời hạn.

3. Số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định.

Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại chịu trách nhiệm về việc quản lý Trung tâm; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại quy định tại Điều 10 của Luật này.

2. Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ được giao; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc khi Giám đốc vắng mặt.

Điều 13. Điều kiện, thủ tục thành lập Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Trung tâm Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh được thành lập trên cơ sở số lượng vụ việc hòa giải, đối thoại và số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên.

2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và yêu cầu thực tế của từng địa phương quyết định việc thành lập Trung tâm Hòa giải, Đối thoại.

3. Đối với Tòa án nhân dân nơi chưa thành lập Trung tâm Hòa giải, Đối thoại thì lập danh sách Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện hòa giải, đối thoại.

4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Điều 14. Tên và công bố thành lập Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

1. Tên của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại được đặt bằng tiếng Việt theo tên của Tòa án nhân dân nơi đặt Trung tâm.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có quyết định thành lập, Trung tâm Hòa giải, Đối thoại phải đăng Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh về những nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại;

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại;

c) Thời điểm bắt đầu hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại;

d) Danh sách Hòa giải viên, Đối thoại viên của Trung tâm.

Điều 15. Giải thể Trung tâm Hòa giải, Đối thoại

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định giải thể Trung tâm Hòa giải, Đối thoại khi không đáp ứng đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật này theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Mục 2

HÒA GIẢI VIÊN, ĐỐI THOẠI VIÊN

Điều 16. Tiêu chuẩn Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Tiêu chuẩn chung của Hòa giải viên, Đối thoại viên gồm:

a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư;

b) Dưới 70 tuổi, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;

c) Có kinh nghiệm và khả năng hòa giải, đối thoại;

d) Tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại;

2. Những người dưới đây nếu có đủ tiêu chuẩn tại khoản 1 Điều này thì có thể được bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên:

a) Thẩm phán, Kiểm sát viên, những người giữ chức danh tư pháp khác đã nghỉ hưu;

b) Phương án 1: Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác;

Phương án 2: Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác;

c) Những người có uy tín cao trong xã hội.

Điều 17. Đề nghị bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 16 của Luật này nộp hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên tại Tòa án nhân dân nơi họ có nguyện vọng làm việc.

2. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm bao gồm:

a) Đơn đề nghị;

b) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền;

c) Giấy chứng nhận sức khỏe.

d) Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

3. Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ, căn cứ nhu cầu bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh lựa chọn người có đủ tiêu chuẩn, đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.

Điều 18. Bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định bổ nhiệm.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định bổ nhiệm, danh sách Hòa giải viên, Đối thoại viên phải được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và niêm yết tại trụ sở Tòa án nơi Hòa giải viên, Đối thoại viên làm việc.

Điều 19. Miễn nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Việc miễn nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Theo nguyện vọng của Hòa giải viên, Đối thoại viên;

b) Không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 16 của Luật này;

c) Vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này;

d) Không hoàn thành nhiệm vụ hoặc 02 năm liên tiếp có số lượng vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành thấp nhất tại nơi họ làm việc.

2. Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định miễn nhiệm và xóa tên khỏi danh sách Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Điều 20. Quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Hòa giải viên, Đối thoại viên có quyền sau đây:

a) Tiến hành hòa giải vụ việc dân sự, đối thoại khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này;

b) Yêu cầu các bên cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính;

c) Không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của tài liệu, chứng cứ do các bên tham gia hòa giải, đối thoại cung cấp;

d) Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hòa giải, đối thoại;

đ) Được hưởng thù lao theo quy định của pháp luật khi thực hiện hoạt động hòa giải, đối thoại;

e) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;

g) Thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này.

2. Hòa giải viên, Đối thoại viên có nghĩa vụ sau đây:

a) Tiến hành hòa giải, đối thoại theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này;

b) Tuân thủ pháp luật, vô tư, khách quan;

c) Đảm bảo bí mật thông tin theo quy định của Luật này;

d) Không ép buộc các bên hòa giải, đối thoại trái với ý chí của họ;

đ) Không được nhận tiền, lợi ích từ các bên tham gia hòa giải, đối thoại;

e) Từ chối tiến hành hòa giải, đối thoại nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại hoặc vì lý do khác dẫn đến có thể không vô tư, khách quan trong quá trình hòa giải, đối thoại;

g) Từ chối làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đối với vụ việc mà mình đã tiến hành hòa giải, đối thoại;

h) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

Điều 21. Thay đổi Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Hòa giải viên, Đối thoại viên bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại;

b) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không công bằng, vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ;

c) Các bên tham gia hòa giải, đối thoại thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên, Đối thoại viên khác hoặc từ chối Hòa giải viên, Đối thoại viên đã được phân công;

d) Không thể tiếp tục tiến hành hòa giải, đối thoại vì lý do khách quan;

đ) Bị miễn nhiệm theo quy định tại Điều 19 của Luật này.

2. Việc thay đổi Hòa giải viên, Đối thoại viên do Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc Chánh án Tòa án nhân dân nơi chưa thành lập Trung tâm Hòa giải, Đối thoại quyết định.

Điều 22. Thù lao của Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Thù lao của Hòa giải viên, Đối thoại viên được chi trả từ ngân sách Nhà nước.

2. Tòa án nhân dân nơi Hòa giải viên, Đối thoại viên làm việc căn cứ quy định của Bộ Tài chính tiến hành chi trả thù lao cho Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Điều 23. Khen thưởng, kỷ luật Hòa giải viên, Đối thoại viên

1. Hòa giải viên, Đối thoại viên có thành tích trong công tác thì được khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng.

2. Hòa giải viên, Đối thoại viên có vi phạm thì bị xem xét kỷ luật.

3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết về việc khen thưởng, kỷ luật Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Chương III

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI

Điều 24. Chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính để hòa giải, đối thoại tại Tòa án

1. Khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Tòa án vào sổ nhận đơn và xem xét chuyển ngay đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại để phân công Hòa giải viên, Đối thoại viên (trường hợp Tòa án chưa thành lập Trung tâm thì chuyển cho Hòa giải viên, Đối thoại viên được Chánh án Tòa án phân công), đồng thời, thông báo cho các bên liên quan biết trong trường hợp vụ việc có đủ các điều kiện sau đây theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính:

a) Thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

b) Không thuộc trường hợp không được hòa giải, đối thoại.

2. Thời gian nhận và giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định của Luật này không tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hạn tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Điều 25. Thời hạn hòa giải, đối thoại

1. Thời hạn hòa giải, đối thoại không quá 20 ngày, kể từ ngày Hòa giải viên, Đối thoại viên được phân công. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

2. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, thời hạn hòa giải, đối thoại có thể kéo dài theo đề nghị của các bên.

Điều 26. Chuẩn bị hòa giải, đối thoại

Để chuẩn bị hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện các công việc sau đây:

1. Tiếp nhận hồ sơ;

2. Vào sổ theo dõi vụ việc;

3. Nghiên cứu hồ sơ;

4. Xác định tư cách của những người liên quan trong vụ việc;

5. Yêu cầu các bên tham gia hòa giải, đối thoại bổ sung hồ sơ; cung cấp cho Hòa giải viên, Đối thoại viên và trao đổi với nhau những nội dung cần hòa giải, đối thoại, quan điểm, đề xuất về phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính;

6. Xây dựng phương án hòa giải, đối thoại;

7. Mời những người uy tín có khả năng tác động đến các bên tham gia hòa giải, đối thoại để hỗ trợ cho việc hòa giải, đối thoại khi xét thấy cần thiết;

8. Nghiên cứu pháp luật có liên quan, tìm hiểu phong tục, tập quán và hoàn cảnh của các bên tham gia hòa giải, đối thoại để hỗ trợ cho việc hòa giải, đối thoại khi xét thấy cần thiết;

9. Tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức có chuyên môn về lĩnh vực có liên quan vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính khi xét thấy cần thiết;

10. Các nội dung khác cần thiết cho việc hòa giải, đối thoại.

Điều 27. Thông báo về phiên hòa giải, đối thoại

1. Chậm nhất 07 ngày, trước khi tiến hành phiên hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên phải thông báo cho các bên và những người được mời tham gia phiên hòa giải, đối thoại về thời gian, địa điểm, nội dung tiến hành phiên hòa giải, đối thoại.

2. Việc thông báo có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc hình thức khác thuận tiện cho các bên.

Điều 28. Địa điểm hòa giải, đối thoại

Việc hòa giải, đối thoại được tiến hành tại trụ sở Tòa án, nơi làm việc của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc có thể được tiến hành ngoài trụ sở Tòa án.

Điều 29. Phương pháp tiến hành hòa giải, đối thoại

1. Quá trình hòa giải, đối thoại có thể được tiến hành trong nhiều phiên, giải quyết lần lượt các yêu cầu hòa giải, đối thoại.

2. Các phiên hòa giải, đối thoại có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc hình thức khác.

3. Trong quá trình hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể gặp riêng từng bên, yêu cầu mỗi bên trình bày ý kiến của mình về các vấn đề của vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, đề xuất giải pháp hòa giải, đối thoại.

4. Các bên đề xuất, đàm phán, thống nhất về các phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính. Hòa giải viên, Đối thoại viên phân tích, gợi ý, hỗ trợ các bên thống nhất các giải pháp hòa giải, đối thoại nhưng không được áp đặt.

5. Trường hợp người tham gia hòa giải, đối thoại có yêu cầu phiên dịch thì tự chịu chi phí phiên dịch.

Điều 30. Thành phần tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại

1. Thành phần tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải gồm có:

a) Hòa giải viên;

b) Các bên tham gia hòa giải hoặc người đại diện hợp pháp của các bên;

c) Người được mời tham gia hòa giải trong trường hợp cần thiết;

d) Thẩm phán tham gia phiên họp trong trường hợp qua hòa giải các bên thống nhất thuận tình ly hôn để xác nhận kết quả hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

đ) Phương án 1: Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải và chữ ký của các bên trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải.

Phương án 2: Không quy định điểm này.

2. Thành phần tham gia phiên họp ghi nhận kết quả đối thoại gồm có:

a) Đối thoại viên;

b) Các bên tham gia đối thoại hoặc người đại diện hợp pháp của các bên;

c) Người được mời tham gia đối thoại trong trường hợp cần thiết;

d) Phương án 1: Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện đối thoại và chữ ký của các bên trong biên bản ghi nhận kết quả đối thoại.

Phương án 2: Không quy định điểm này.

3. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia hòa giải, đối thoại và phải thông báo bằng văn bản về họ tên, địa chỉ liên lạc của những người này cho bên còn lại và cho Hòa giải viên, Đối thoại viên biết. Đối với trường hợp hòa giải quan hệ hôn nhân trong vụ việc ly hôn, các bên trong quan hệ vợ, chồng phải trực tiếp tham gia hòa giải.

Người đại diện theo ủy quyền của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, người đại diện theo ủy quyền của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó phải có đủ thẩm quyền để giải quyết khiếu kiện.

Điều 31. Hoãn phiên hòa giải, đối thoại

Hòa giải viên, Đối thoại viên hoãn phiên hòa giải, đối thoại khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Một trong các bên tham gia hòa giải, đối thoại đã được thông báo lần thứ nhất mà vắng mặt;

2. Theo yêu cầu của các bên tham gia hòa giải, đối thoại và không vi phạm thời hạn hòa giải, đối thoại quy định tại Điều 25 của Luật này;

3. Hòa giải viên, Đối thoại viên không thể tiến hành hòa giải, đối thoại vì lý do khách quan.

Điều 32. Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại

1. Tại phiên kết thúc hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại với các nội dung sau:

a) Ngày, tháng, năm, địa điểm tiến hành hòa giải, đối thoại;

b) Thành phần tham gia phiên hòa giải, đối thoại;

c) Kết quả hòa giải thành, kết quả đối thoại thành; những nội dung hòa giải không thành, đối thoại không thành; yêu cầu của các bên;

d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và Hòa giải viên, Đối thoại viên;

đ) Chữ ký xác nhận của Thẩm phán trong trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 30 của Luật này.

e) Phương án 1 (nếu theo Phương án 1 tại điểm đ khoản 1 Điều 30 và điểm d khoản 2 Điều 30 của Luật này): Chữ ký xác nhận của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc Thẩm phán được Chánh án phân công.

Phương án 2: Không quy định nếu theo phương án 2 tại điểm đ khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 30 của Luật này.

2. Những người tham gia phiên hòa giải, đối thoại có quyền được xem biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại; yêu cầu sửa đổi, bổ sung và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản hòa giải, biên bản đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên phải gửi biên bản hòa giải, biên bản đối thoại cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại và lưu vào hồ sơ hòa giải, đối thoại.

4. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận, thống nhất. Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có giá trị pháp lý đối với các bên tham gia hòa giải, đối thoại theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Chấm dứt hòa giải, đối thoại

Việc hòa giải, đối thoại chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Hòa giải thành, đối thoại thành;

2. Hòa giải không thành, đối thoại không thành;

3. Một bên hoặc các bên không đồng ý tiếp tục hòa giải, đối thoại hoặc vắng mặt sau hai lần được thông báo về việc hòa giải, đối thoại mà không có lý do chính đáng;

4. Vụ việc không được hòa giải, đối thoại theo quy định của luật.

Điều 34. Xử lý hòa giải, đối thoại không thành, không tiến hành hòa giải, đối thoại được

1. Trường hợp hòa giải, đối thoại không thành hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 33 của Luật này thì Hòa giải viên, Đối thoại viên chuyển đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ việc theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, trừ những tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này.

2. Thời hạn chuyển đơn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại không thành hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được.

CHƯƠNG IV

THỰC HIỆN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH, ĐỐI THOẠI THÀNH

Mục 1

THỰC HIỆN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH

Điều 35. Hình thức thực hiện kết quả hòa giải thành

Kết quả hòa giải thành có thể được thực hiện theo một trong những hình thức sau đây:

1. Các bên tự nguyện thực hiện những nội dung đã thống nhất trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành;

2. Các bên đề nghị công nhận thuận tình ly hôn;

3. Một trong các bên đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành.

Điều 36. Tự nguyện thực hiện kết quả hòa giải thành

1. Các bên tự nguyện thực hiện những nội dung đã cam kết trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành mà không đề nghị Tòa án công nhận.

2. Trong quá trình thực hiện kết quả hòa giải thành, nếu một bên vì sự kiện bất khả kháng không thể thực hiện được thì có trách nhiệm trao đổi với các bên liên quan và thông báo cho Hòa giải viên.

Điều 37. Thủ tục công nhận thuận tình ly hôn

1. Thủ tục xem xét công nhận thuận tình ly hôn được thực hiện theo quy định tại các điều 38, 39, 40, 41, 42, 43 và 44 của Luật này.

2. Thẩm phán không phải tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 38. Thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành

1. Trường hợp một trong các bên yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành theo điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành, Hòa giải viên phải gửi biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành cho Tòa án để xem xét, công nhận.

2. Trường hợp các bên không yêu cầu Tòa án công nhận tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành thì trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án nơi Hòa giải viên đã tiến hành hòa giải xem xét, công nhận.

3. Kèm theo đơn yêu cầu là biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành và tài liệu, chứng cứ có liên quan chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Người yêu cầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình.

Điều 39. Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành

Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành khi có đủ các điều kiện sau:

1. Có yêu cầu của một trong các bên;

2. Có biên bản ghi nhận hòa giải thành;

3. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

4. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý;

5. Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

Điều 40. Thủ tục thụ lý yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành

1. Ngay sau khi nhận được yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 38 của Luật này, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét hồ sơ và thực hiện các việc sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn, tài liệu, chứng cứ (nếu cần thiết);

b) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều này, nếu người yêu cầu thực hiện đầy đủ thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự; nếu không thực hiện thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.

Điều 41. Trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ

1. Tòa án trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ trong những trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;

b) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

c) Người yêu cầu không thực hiện yêu cầu của Thẩm phán quy định khoản 2 Điều 40 của Luật này;

d) Sự việc người yêu cầu yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

2. Khi trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 42. Thông báo thụ lý đơn yêu cầu

1. Ngay sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc công nhận kết quả hòa giải thành, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.

2. Văn bản thông báo có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu;

c) Tên, địa chỉ của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

d) Những vấn đề cụ thể người yêu cầu yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành;

đ) Danh mục tài liệu, chứng cứ đương sự nộp kèm theo đơn yêu cầu;

e) Thời hạn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);

g) Hậu quả pháp lý của việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành.

Điều 43. Xem xét, quyết định công nhận kết quả hòa giải thành

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trường hợp cần thiết phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày, Thẩm phán phải xem xét và ra một trong các quyết định sau đây:

1. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành;

2. Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;

Điều 44. Quyết định công nhận, không công nhận kết quả hòa giải thành

1. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 39 của Luật này. Quyết định của Tòa án phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án ra quyết định;

c) Họ, tên của Thẩm phán ra quyết định;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

đ) Tên, địa chỉ của người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành;

e) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành;

g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu;

h) Căn cứ pháp luật để công nhận kết quả hòa giải thành;

i) Quyết định của Tòa án;

k) Lệ phí công nhận kết quả hòa giải thành.

2. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 39 của Luật này. Nội dung quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Việc không công nhận kết quả hòa giải thành không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải.

3. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

5. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ cho rằng nội dung các bên thỏa thuận được là do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Trình tự, thủ tục kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

6. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.

Mục 2

THỰC HIỆN KẾT QUẢ ĐỐI THOẠI THÀNH

Điều 45. Hình thức thực hiện kết quả đối thoại thành

Kết quả đối thoại thành có thể được thực hiện theo một trong những hình thức sau đây:

1. Các bên tự nguyện thực hiện những nội dung đã thống nhất trong biên bản ghi nhận kết quả đối thoại thành;

2. Một trong các bên đề nghị Tòa án công nhận kết quả đối thoại thành.

Điều 46. Tự nguyện thực hiện kết quả đối thoại thành

Việc tự nguyện thực hiện kết quả đối thoại thành được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Luật này.

Điều 47. Xem xét công nhận kết quả đối thoại thành

1. Tòa án ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành khi có đủ các điều kiện sau:

a) Có yêu cầu của một trong các bên;

b) Có biên bản ghi nhận đối thoại thành;

c) Các bên tham gia đối thoại có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

d) Nội dung thống nhất trong biên bản ghi nhận kết quả đối thoại thành không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

2. Trình tự, thủ tục thụ lý, xem xét công nhận kết quả đối thoại thành thực hiện theo quy định tại các điều 38, 40, 41, 42 và 43 của Luật này.

Điều 48. Quyết định công nhận, không công nhận kết quả đối thoại thành

1. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật này. Quyết định của Tòa án phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án ra quyết định;

c) Họ, tên của Thẩm phán ra quyết định;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

đ) Tên, địa chỉ của người yêu cầu công nhận kết quả đối thoại thành;

e) Những nội dung đã thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận kết quả đối thoại thành;

g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu;

h) Căn cứ pháp luật để công nhận kết quả đối thoại thành;

i) Quyết định của Tòa án;

k) Lệ phí phải nộp.

2. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật này. Nội dung quyết định không công nhận kết quả đối thoại thành được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Việc không công nhận kết quả đối thoại thành không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả đối thoại.

3. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án được gửi cho người tham gia đối thoại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

5. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Trình tự, thủ tục kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

6. Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành được thi hành theo pháp luật về thi hành án hành chính.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 49. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày …. tháng … năm ……..

Điều 50. Trách nhiệm thi hành

1. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật, hướng dẫn các nội dung cần thiết khác theo thẩm quyền để thi hành Luật này.

2. Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá .., kỳ họp thứ … thông qua ngày….tháng … năm …

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân


Dự thảo 2: Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Loại văn bản Luật
Cơ quan soạn thảo
Quốc hội
Ngày soạn thảo 05/04/2019
Ngày hết hạn lấy ý kiến
File toàn văn Dự thảo 2: Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về
1 DT TT DAL Hoa giai, doi thoai.5.4.2019.Dang cong TT.doc Tải về

Dự thảo 2: Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 809

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv