Skip to main content
Dự thảo 02: Nghị quyết Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

image

Số: /2019/NQ-HĐTP

DỰ THẢO 02

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

image

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

NGHỊ QUYẾT

Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

image

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13;

Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Án lệ và giá trị pháp lý của án lệ

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

Điều 2. Tiêu chí lựa chọn án lệ

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây:

1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;

2. Có tính chuẩn mực;

3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Điều 3. Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ

1. Việc rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ được thực hiện như sau:

a) Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực và tương đương căn cứ vào các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này tổ chức rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình và gửi báo cáo nêu rõ nội dung đề xuất lựa chọn làm án lệ kèm theo bản án, quyết định được đề xuất về Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học).

b) Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương căn cứ vào các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này tổ chức rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình, các Tòa án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ và gửi báo cáo nêu rõ nội dung đề xuất lựa chọn làm án lệ kèm theo bản án, quyết định được đề xuất về Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) kèm theo bản án, quyết định được đề xuất. Trường hợp cần thiết, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương xem xét, đánh giá trước khi gửi báo cáo.

c) Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương căn cứ vào các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này tổ chức rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án mình và gửi báo cáo nêu rõ nội dung đề xuất lựa chọn làm án lệ kèm theo bản án, quyết định được đề xuất về Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) kèm theo bản án, quyết định được đề xuất. Trường hợp cần thiết, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xem xét, đánh giá trước khi gửi báo cáo.

d) Vụ trưởng các Vụ Giám đốc kiểm tra Toà án nhân dân tối cao căn cứ vào các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này tổ chức rà soát, phát hiện các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của các Toà án khác, gửi báo cáo về Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Toà án nhân dân tối cao, trong đó đánh giá thực tiễn xét xử và pháp luật liên quan đến đề xuất lựa chọn án lệ; nêu rõ bản án, quyết định có chứa đựng nội dung đề xuất lựa chọn phát triển thành án lệ; nội dung đề xuất lựa chọn làm án lệ (kèm theo bản án, quyết định được đề xuất);

đ) Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao tổ chức rà soát, phát hiện các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của các Toà án khác để đề xuất phát triển thành án lệ;

e) Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể gửi đề xuất lựa chọn các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này cho Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để phát triển thành án lệ.

2. Việc tổ chức rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ của các Toà án được tiến hành đột xuất theo yêu cầu của Tòa án nhân dân tối cao hoặc theo định kỳ ít nhất một năm một lần.

Điều 4. Xây dựng, lấy ý kiến đối với các dự thảo án lệ

1. Ngay sau khi nhận được báo cáo kèm theo các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn để phát triển thành án lệ theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết này, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Toà án nhân dân tối cao tiến hành nghiên cứu, đề xuất và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định lựa chọn các bản án, quyết định để xây dựng dự thảo án lệ.

Sau khi xây dựng các dự thảo án lệ, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đăng các dự thảo án lệ lên Trang tin điện tử về án lệ Tòa án nhân dân tối cao để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia ý kiến trong thời hạn 01 tháng. Trường hợp cần thiết có thể tổ chức Hội thảo lấy ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn, các cơ quan, tổ chức hữu quan.

2. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày hết thời hạn lấy ý kiến theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với các đơn vị chức năng của Toà án nhân dân tối cao tập hợp các ý kiến góp ý; tổ chức nghiên cứu, chỉnh lý các dự thảo án lệ và đề xuất Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ.

Điều 5. Hội đồng tư vấn án lệ

1. Hội đồng tư vấn án lệ do Chánh án Toà án nhân dân tối cao thành lập theo đề nghị của Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học gồm có ít nhất 09 thành viên. Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Hội đồng khoa học Toà án nhân dân tối cao, 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Toà án nhân dân tối cao, 01 Thư ký Hội đồng là đại diện lãnh đạo Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Toà án nhân dân tối cao và các thành viên là đại diện Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn luật sư Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về pháp luật và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan.

Trường hợp tư vấn án lệ về hình sự thì thành phần của Hội đồng tư vấn án lệ phải có đại diện Bộ Công an.

2. Hội đồng tư vấn án lệ có trách nhiệm thảo luận, cho ý kiến đối với các nội dung của các dự thảo án lệ.

3. Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học gửi hồ sơ đề nghị tư vấn án lệ tới các thành viên của Hội đồng tư vấn án lệ.

Hồ sơ đề nghị tư vấn án lệ gồm có: Văn bản đề nghị tư vấn của Toà án nhân dân tối cao; Báo cáo về các bản án, quyết định của Tòa án đề xuất lựa chọn là nguồn để phát triển án lệ của Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Toà án nhân dân tối cao; Bản tổng hợp ý kiến góp ý đối với các dự thảo án lệ; các bản án, quyết định được đề xuất phát triển thành án lệ.

4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tư vấn, Chủ tịch Hội đồng tư vấn án lệ tổ chức phiên họp để thảo luận, cho ý kiến về các nội dung hướng dẫn tại khoản 2 Điều này và báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao kết quả phiên họp tư vấn (kèm theo hồ sơ đề nghị tư vấn án lệ).

Điều 6. Thông qua án lệ

1. Trên cơ sở Báo cáo của Hội đồng tư vấn án lệ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để thảo luận và biểu quyết thông qua án lệ. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua án lệ có thể có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trường hợp thông qua án lệ về lĩnh vực hình sự và một số có quan, tổ chức có liên quan.

2. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.

3. Kết quả biểu quyết thông qua án lệ phải được ghi vào biên bản phiên họp của Hội đồng Thẩm phán và là căn cứ để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố án lệ.

Điều 6a. Thông qua án lệ theo thủ tục rút gọn

1. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền biểu quyết lựa chọn quyết định giám đốc thẩm về vụ việc đang giải quyết để phát triển thành án lệ.

2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại khoản 1 Điều này phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.

3. Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao xây dựng dự thảo án lệ và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để gửi dự thảo án lệ kèm theo quyết định giám đốc thẩm được lựa chọn để phát triển thành án lệ cho các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối, Bộ Công an cao góp ý trong thời hạn không quá 15 ngày.

4. Sau khi nhận được các ý kiến góp ý của các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý các dự thảo án lệ và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc công bố án lệ.

Điều 7. Công bố án lệ

1. Sau khi Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua án lệ hoặc nhận được báo cáo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 6a của Nghị quyết này, Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố án lệ.

2. Án lệ được công bố phải bao gồm những nội dung sau:

a) Số, tên án lệ;

b) Số, tên bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ;

c) Từ khoá về những vấn đề pháp lý được giải quyết trong án lệ;

d) Các tình tiết trong vụ án và phán quyết của Toà án có liên quan đến án lệ;

đ) Vấn đề pháp lý có giá trị hướng dẫn xét xử được giải quyết trong án lệ.

e) Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ.

3. Án lệ được đăng trên Trang tin điện tử về án lệ của Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Toà án và được đưa vào Tuyển tập án lệ xuất bản theo định kỳ 12 tháng.

Điều 8. Nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử

1. Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố hoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

2. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có vấn đề pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau.

3. Các trường hợp không áp dụng án lệ:

a) Vụ việc không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;

b) Trường hợp do có sự thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật mà án lệ không còn phù hợp.

c)Trường hợp do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp.

Điều 8a. Viện dẫn án lệ trong bản án, quyết định của Tòa án

1. Trường hợp Hội đồng xét xử áp dụng án lệ để giải quyết vụ việc thì số án lệ, số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ (nội dung khái quát của án lệ) phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn nguyên văn những nội dung hạt nhân của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết các vụ việc tương tự.

2. Trường hợp Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ vì thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm b, điểm c khoản 3 Điều 8 của Nghị quyết này hoặc một trong các đương sự, người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đề nghị áp dụng án lệ thì việc không áp dụng án lệ cũng phải được nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án.

Điều 9. Công bố án lệ hết hiệu lực, thay thế án lệ

1. Trường hợp do sự thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật mà án lệ không còn phù hợp thì án lệ đương nhiên bị hết hiệu lực.

2. Trường hợp do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp nhưng chưa có quy định mới của pháp luật thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xem xét công bố án lệ hết hiệu lực.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức phát hiện án lệ không còn phù hợp theo hướng dẫn tại khoản này có quyền kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) xem xét công bố án lệ hết hiệu lực, thay thế án lệ.

3. Trường hợp Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ và có phân tích, lập luận nêu rõ lý do trong bản án, quyết định thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi ra bản án, quyết định phải gửi kiến nghị về việc công bố án lệ hết hiệu lực, thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) kèm theo bản án, quyết định đó.

4. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được kiến nghị theo hướng dẫn tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học nghiên cứu, báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao để tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét việc công bố án lệ hết hiệu lực, thay thế án lệ.

5. Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao họp biểu quyết thông qua việc công bố án lệ hết hiệu lực, thay thế án lệ đối với trường hợp nêu tại khoản 2 và khoản 3 Điều này theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết này.

Trên cơ sở kết quả biểu quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố các án lệ hết hiệu lực, án lệ bị thay thế, trong đó xác định rõ thời điểm án lệ bị hết hiệu lực, thay thế.

Quyết định công bố án lệ hết hiệu lực hoặc thay thế án lệ phải được đăng trên Trang tin điện tử về án lệ của Toà án nhân dân tối cao và gửi đến các Toà án.

Điều 10. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày … tháng … năm 2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày … tháng … năm 2019.

2. Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

3. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Nơi nhận:

- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội;
 
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Chỉ đạo CCTPTƯ;

- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ
(02 bản);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Các TAND và TAQS;

- Các Thẩm phán TANDTC;

- Các đơn vị TANDTC;

- Cổng thông tin điện tử TANDTC;
- Lưu: VT, Vụ PC&QLKH (TANDTC).

 

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN



Nguyễn Hòa Bình

Mẫu Biên bản phiên họp lựa chọn, thông qua án lệ

(ban hành kèm theo Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày ... tháng ... năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

imageHỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

 

imageCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Hà Nội, ngày      tháng     năm 201...

 

BIÊN BẢN PHIÊN HỌP

Lựa chọn, thông qua án lệ

- Căn cứ Điều 22 Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày ... tháng ... năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ;

Ngày... tháng... năm...(1), Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp để lựa chọn, thông qua án lệ.

I. Thành phần tham gia phiên họp:

- Tham gia phiên họp có ...(2) thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

- Chủ trì: Đồng chí.......................................................................................

- Người ghi biên bản:...................................................................................

II. Nội dung phiên họp:(3)

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

III. Kết quả biểu quyết thông qua án lệ:(4)

Sau khi thảo luận, Hội đồng Thẩm phán đã tiến hành biểu quyết; kết quả như sau:

- Số thành viên đồng ý thông qua án lệ:...........................................

- Số thành viên không đồng ý thông qua án lệ:................................

- Ý kiến khác:....................................................................................

Phiên họp kết thúc lúc.... giờ... ngày... tháng... năm...

 

CHỦ TRÌ

 

NGƯỜI GHI BIÊN BẢN

 

image

(1) Ghi ngày, tháng, năm Hội đồng Thẩm phán tổ chức phiên họp.

(2) Ghi số thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tham gia phiên họp.

(3) Ghi nội dung phát biểu, thảo luận tại phiên họp.

(4) Kết quả biểu quyết thông qua đối với từng án lệ.

Mẫu Quyết định về việc công bố án lệ

(ban hành kèm theo Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày ... tháng ... năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

imageTÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

 

imageCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:        /QĐ-CA

 

Hà Nội, ngày        tháng      năm 201...

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc công bố án lệ

CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày … tháng … năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ;

- Căn cứ kết quả lựa chọn và biểu quyết thông qua án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Biên bản phiên họp ngày... tháng... năm....,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Công bố...(1) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).

Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Toà án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày ...................(6).

Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 dự thảo Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày … tháng … năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

 

Nơi nhận:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội (để b/c);
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo CCTPTW;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Viện kiểm sát
nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;

- Liên đoàn Luật sư Việt Nam;

- Trung ương Hội luật gia Việt Nam;

- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
- Các Thẩm phán TANDTC;

- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Lưu: VT (Vụ PC&QLKH, TANDTC).

 

CHÁNH ÁN

 

 

image

(1) Ghi số lượng án lệ được thông qua.

(6) Được tính theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 dự thảo Nghị quyết.

 


Mẫu Quyết định về việc công bố án lệ hết hiệu lực

(Ban hành kèm theo Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày ... tháng ... năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
--------

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số:        /QĐ-CA

 

Hà Nội, ngày        tháng      năm 201...

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc công bố án lệ hết hiệu lực

CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số .../2019/NQ-HĐTP ngày ... tháng ... năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ;

- Căn cứ kết quả thảo luận và biểu quyết thông qua việc công bố án lệ hết hiệu lực của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Biên bản phiên họp ngày ... tháng ... năm ... ,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Công bố án lệ sau đây hết hiệu lực:(1)

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

 Nơi nhận:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội (để b/c);
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo CCTPTW;
- Văn phòn
g Chủ tịch nước;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;

- Liên đoàn Luật sư Việt Nam;

- Trung ương Hội luật gia Việt Nam;

- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
- Các Thẩm phán TANDTC;

- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Lưu: VT (Vụ PC&QL
KH, TANDTC).

 

CHÁNH ÁN

 

image

 

(1) Ghi nội dung của án lệ theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 dự thảo Nghị quyết.

Dự thảo 02: Nghị quyết Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

Loại văn bản Nghị quyết
Cơ quan soạn thảo
Toà án nhân dân tối cao
Ngày soạn thảo 03/04/2019
Ngày hết hạn lấy ý kiến
File toàn văn Dự thảo 02: Nghị quyết Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về

Dự thảo 02: Nghị quyết Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 1252

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv