Skip to main content
Dự thảo 1.1: Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

imageHỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

imageTÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO


Số: /2020/NQ-HĐTP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Hà Nội, ngày tháng năm 2020

DỰ THẢO 1.1

NGHỊ QUYẾT

HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI

——————————

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dânngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị quyết này hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tụccông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

2. Nghị quyết này cũng được áp dụng để giải quyết đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm bản án, quyết định dân sự không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

Điều 2. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 423 Bộ luật tố tụng dân sự bao gồm:

1. Bản án, quyết định giải quyết tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính, trừ bản án, quyết định quy định tại Điều 3 của Nghị quyết này.

2. Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài chưa được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự nhưng được văn bản quy phạm pháp luật khác quy định thuộc trường hợp được Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Điều 3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

1.Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây không được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

a) Bản án, quyết định về thủ tục tố tụng, bao gồm bản án, quyết định xác định thẩm quyền của Tòa án đối với vụ việc, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các quyết định tố tụng khác do Tòa án ban hành trong quá trình giải quyết vụ việc;

b) Quyết định về thỏa thuận trọng tài, tố tụng trọng tài nước ngoài;

c) Bản án, quyết địnhvề việc tái cấu trúc ngân hàng, tổ chức tín dụng;

d) Bản án, quyết định về việcgiải quyếtphá sản;

đ) Bản án, quyết định vềviệc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể doanh nghiệp, pháp nhân hoặc hiệu lực của việc đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty, pháp nhânvà các văn bản do tổ chức này ban hành nếu tổ chức đó được thành lập tại Việt Nam hoặc tại nước khác với nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định;

e) Bản án, quyết định về việc đăng ký hoặc hiệu lực của quyền sở hữu trí tuệmà quyền đó phải đăng ký mới được bảo hộ, bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng...nếu một trong các quyền sở hữu trí tuệ này đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam,đăng ký bảo hộ quốc tế theo quy định tạiđiều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặcđã được đăng kýbảo hộ tại nước khác với nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định;

g) Quyết định về việc truy tìm, tịch thu tài sản, bảo đảm việc tịch thu tài sản (kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm giữ tài sản...) do phạm tội mà có tại Việt Namtrong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài;

h)Bản án, quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của trọng tài nước ngoài;

i) Bản án, quyết định về vụ việc dân sự mà trọng tài nước ngoài đã ra phán quyết và đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.

2. Quyết định của Tòa án nước ngoài về thỏa thuận trọng tài, tố tụng trọng tài nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Quyết định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của hội đồng trọng tài, chỉ định, bổ nhiệm, thay đổi trọng tài viên, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

b) Các quyết định khác mà Tòa án nước ngoài ban hành để hỗ trợ, giám sáthoạt động tố tụngtrọng tài theo quy định của pháp luật nước đó.

3. Quyết định về truy tìm, tịch thu tài sản, bảo đảm việc tịch thu tài sản (kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm giữ tài sản...) do phạm tội mà có tại Việt Nam trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài quy định tại điểm g khoản 1 Điều này được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tương trợ tư pháp về hình sự, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 4. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nammà không phải thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận tại Tòa án

1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự đương nhiên được công nhận tại Việt Nam nếuđáp ứng được các điều kiện sau đây:

a)Là bản án, quyết định về quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không gắn với tài sản, không cần phải thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và được quy định thuộc trường hợp đương nhiên được công nhận tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Bản án, quyết định đókhông có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

c) Đương sự không có đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định đó tại Việt Namtrong thời hạn quy định tại Điều 447 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ví dụ: Một số điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên sau đây có quy định về bản án, quyết định dân sự của Tòa án đương nhiên được công nhận:

- Bản án, quyết định dân sự quy định tại Điều 20 Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia;

- Bản án, quyết định dân sự quy định khoản 1 Điều 51 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga.

2. Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:

a) Là bản án, quyết định về quyền nhân thân không gắn với tài sản và không cần phải thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự;

b) Bản án, quyết định đó không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

c) Đương sự không có đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định đó tại Việt Namtrong thời hạn quy định tại Điều 447 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ví dụ: Một số bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây thuộc loại bản án, quyết định không gắn với tài sản và không cần phải thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự:

- Bản án, quyết định tuyên bố một người bị mất tích hoặc một người là đã chết, không giải quyết yêu cầu quản lý tài sản của người bị tuyên bố bị mất tích hoặc bị tuyên bố là đã chết đó;

- Bản án, quyết định ly hôn, không giải quyết vấn đề tài sản chung, con chung của vợ chồng;

- Bản án, quyết định về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ;

- Bản án, quyết định xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

3. Trường hợp đương sự là công dân Việt Nam, không phân biệt cư trú tại Việt Nam hay cư trú ở nước ngoài, nộp đơn yêu cầu công nhận bản án, quyết định ly hôn (không giải quyết vấn đề tài sản chung, con chung của vợ chồng) của Tòa án nước ngoài, thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu. Cùng với việc trả lại đơn yêu cầu, Tòa án cần giải thích cho đương sự biết nếu họ đồng ý với bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài, thì bản án, quyết định đó đương nhiên có hiệu lực tại Việt Nam theo quy định tại Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp này, họ không cần phải yêu cầu Tòa án công nhận bản án, quyết định đó. Nếu đương sự muốn được xác nhận tình trạng đã ly hôn theo bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài, họ chỉ cần liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền của Việt Nam để thực hiệnthủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.

Ví dụ 1: Về trường hợp bản án ly hôn đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhận được đơn của công dân Việt Nam yêu cầu công nhận bản án ly hôn (không giải quyết vấn đề tài sản chung, con chung của vợ chồng) của Tòa án nước U-crai-na giữangười này với người chồng là công dân nước U-crai-na. Trong trường hợp này, Tòa án trả lại đơn yêu cầu và giải thích cho đương sự nếu họ đồng ý với bản án của Tòa án nước U-crai-na, bản án đó đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 41 của Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và U-crai-na. Do đó, họ không cần phải yêu cầu Tòa án công nhận bản án ly hôn nói trên. Nếu họmuốn được xác nhận tình trạng đã ly hôn theo bản ánly hôn của Tòa án nước U-crai-na, họ chỉ cần liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để thực hiệnthủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.

Ví dụ 2: Về trường hợp bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tòa án nhận được đơn của công dân Việt Nam yêu cầu công nhận bản án ly hôn (không giải quyết vấn đề tài sản chung, con chung của vợ chồng) của Tòa án nước Ốt-xtrây-li-a giữa người này với người chồng là công dân Việt Namcư trú tại nước Ốt-xtrây-li-a. Trong trường hợp này, Tòa án trả lại đơn yêu cầu và giải thích cho đương sự nếu họ đồng ý với bản án của Tòa án nước Ốt-xtrây-li-a, bản án đó đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 431 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, họ không cần phải yêu cầu Tòa án công nhận bản án ly hôn nói trên. Trường hợp muốn được xác định tình trạng đã ly hôn theo bản ánly hôn của Tòa án nước Ốt-xtrây-li-a, họ chỉ cần liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để thực hiệnthủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.

Điều 5. Quyền yêu cầu, thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Người có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài (sau đây viết tắt là người yêu cầu) theo quy định tại khoản 1 Điều 432 của Bộ luật tố tụng dân sự được xác định như sau:

a) Người được thi hành là đương sựtrong vụ việc dân sự mà Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định,bao gồm công dân Việt Nam, cơ quan, tổ chức Việt Nam, người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài và quyền, nghĩa vụ của đương sự này được xác định cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án nước đó;

b) Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan là người mà sau khi Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định được kế thừa quyền, nghĩa vụ của đương sự trong bản án, quyết định đó theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định;

c) Người đại diện hợp pháp là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành hoặc người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định.

Ví dụ: Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quanquy định tại điểm b khoản này là một trong những người sau đây:

- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đối với quyền, nghĩa vụ của đương sự trong bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong trường hợp đương sự đó chết sau khi Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định;

- Người tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của đương sự trong bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong trường hợpsau khi Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định, đương sự đó chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức, thay đổi chủ sở hữu…

2. Thời hạn03 năm quy định tại khoản 1 Điều 432 của Bộ luật tố tụng dân sự để người yêu cầu nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được tính từ ngày bản án, quyết định đó có hiệu lực theo quy định pháp luật của nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định.

3. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến người yêu cầu không thể gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 432 của Bộ luật tố tụng dân sự là một trong các sự kiện, trở ngại sau đây:

a) Chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hỏa hoạn;

b) Người yêu cầu bị tai nạn, ốm nặng, bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi;

c) Người yêu cầu không có lỗi về việc không nhận được bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 432 của Bộ luật tố tụng dân sự;

d) Các sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác theo quy định của pháp luật của nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định hoặc nước nơi người yêu cầu cư trú, làm việc, có trụ sở.

Điều 6. Tòa án có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo sự lựa chọn của người yêu cầu

Người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sựđể nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

1. Nếu những người phải thi hành cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau, người yêu cầu có quyền đề nghị Tòa án nơi một trong những người phải thi hành cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.

2. Nếu người phải thi hành có bất động sản, động sản ở nhiều địa phương khác nhau, người yêu cầu đề nghị Tòa án nơi có một trong các bất động sản đó giải quyết.

Điều 7. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Tòa án tiến hành nhận, thụ lý đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều 423 của Bộ luật tố tụng dân sự mà không đòi hỏi Tòa án của nước đó đã từng hoặc sẽ công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam để làm căn cứ xác định giữa Việt Nam và nước đó đang tồn tại mối quan hệ có đi có lại trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của nhau.

2. Trường hợp người phải thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh Tòa án của nước đó đã từng không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam để phản đối việc công nhận bản án, quyết định dân sự đó, Tòa án giải quyết như sau:

a) Tòa án tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu công nhận nếu xét thấy tài liệu, chứng cứ đó cho thấy bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam không được Tòa án nước ngoài công nhận là do không đáp ứng được điều kiện để được công nhận theo quy định của pháp luật nước đó;

b) Tòa án có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nếu xét thấy tài liệu, chứng cứ đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản Điều này.

3. Tòa án có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Tòa án của nước đó đã không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam với lý do giữa nước đó và Việt Nam không tồn tại mối quan hệ có đi có lại trong lĩnh vực này;

b) Tòa án của nước đó đã không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam dựa trên nguyên tắc có đi có lại.

4. Trong quá trình Tòa án xem xét, giải quyết đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, người yêu cầu không có nghĩa vụ chứng minh Tòa án của nước đó đã từng hoặc sẽ công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam để làm căn cứ xác định giữa nước đó và Việt Nam đang tồn tại mối quan hệ có đi có lại trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự.

5. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu hoặc trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nếu xét thấy cần thiết, Tòa án gửi văn bản đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cho ý kiến về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại quy định tại khoản 3 Điều này. Trong trường hợp này, Tòa án không được ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu với lý do cần phải chờ kết quả trả lời về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại.

Trong thời hạn tối đa là 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản, Tòa án nhân dân tối cao có văn bản trả lời Tòa án về việc áp dụng hoặc không áp dụng nguyên tắc có đi có lại.

Điều8.Ủy quyền thực hiện yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Người yêu cầu có quyền ủy quyền cho luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, cá nhân khác tại Việt Nam thực hiện yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Văn bản ủy quyền phải có các nội dung sau đây:

a) Họ tên, địa chỉ liên hệcủa người ủy quyền là cá nhân hoặc tên, địa chỉ liên hệ của người ủy quyền là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

b) Họ tên, địa chỉ liên hệ của người được ủy quyền là cá nhân hoặc tên, địa chỉ liên hệ của người được ủy quyền là tổ chức;số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

c) Ủy quyền thực hiện toàn bộ hoặc một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, bao gồm nộp lệ phí xét đơn yêu cầu, nhận văn bản tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm hoặc cả Tòa án cấp phúc thẩm. Trường hợp ủy quyền thực hiện một phần, thì phải ghi cụ thể nội dung công việc ủy quyền. Trong trường hợp không ủy quyền nhận văn bản tố tụng, thì phải ghi rõ đồng ý hoặc không đồng ý việc nhận văn bản tố tụngcủa Tòa án thông qua hộp thư điện tử của người yêu cầu.

3. Văn bản ủy quyền phải được dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết này.

Điều 9. Đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Đơn yêu cầucông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được lập theo quy định tại Điều 433 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 434 của Bộ luật tố tụng dân sự phải được dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết này.

Điều 10. Yêu cầu dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo đơn yêu cầu

1. Yêu cầu dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu được xác định như sau:

a) Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu lập bằng tiếng nước ngoài của người yêu cầu là cá nhân ở nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, có công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch. Trường hợp văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu được dịch ra tiếng Việt, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài, thì văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu đó còn phải được hợp pháp hóa lãnh sự;

b) Chữ ký của người yêu cầu là công dân Việt Nam ở nước ngoài trong văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu lập bằng tiếng Việt phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trường hợp vì lý do khách quan mà người yêu cầu phải thực hiện công chứng, chứng thực chữ ký đó theo quy định của pháp luật nước ngoài, thì văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu đó phải được hợp pháp hóa lãnh sự;

c) Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu lập bằng tiếng nước ngoài của người yêu cầu là cơ quan, tổ chức nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, có công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch và phải được hợp pháp hóa lãnh sự;

d) Trường hợp văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu quy định tại điểm a và c khoản này được miễn hợp pháp hóa lãnh sựtheo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thì văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu đó vẫn phải được dịch ra tiếng Việt, có công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch.

2. Yêu cầu dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo đơn yêu cầu được xác định như sau:

a) Giấy tờ, tài liệu quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 434 của Bộ luật tố tụng dân sự phải được dịch ra tiếng Việt, có công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch và phải được hợp pháp hóa lãnh sự;

b) Trường hợp giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm a khoản này được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thì giấy tờ, tài liệu đó vẫn phải được dịch ra tiếng Việt, có công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch.

3. Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu đó được điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định thuộc trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự;

b) Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu đó được pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định thuộc trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo nguyên tắc có đi có lại;

c) Văn bản ủy quyền, đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu đó được chuyển giao qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

  Điều 11. Hồ sơyêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Hồ sơyêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài bao gồm đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu và văn bản ủy quyền (nếu có).

2. Người yêu cầu nộp 01 bộ hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam, không phân biệt hồ sơ đó được gửi theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc gửi theo đường bưu chính, nộp trực tiếp tại Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 12. Nộp, gửi hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Người yêu cầu nộp, gửi hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sựtheo một trong các phương thức sau đây:

1. Nộp hồ sơ trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi theo đường bưu chính bằng thư bảo đảm cho Tòa án nếu người yêu cầu có địa chỉ liên hệ tạiViệt Nam hoặc tại nước mà nước đó chưa cùng với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.

2. Gửi hồ sơ qua cơ quan trung ương có thẩm quyền hoặc gửi theo đường bưu chính theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Ví dụ: Các điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về dân sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định về phương thức gửi hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự đến Tòa án của nước có thẩm quyền công nhận bản án, quyết định đó như sau:

- Nếu người yêu cầu có địa chỉ liên hệ tại nước An-giê-ri và Lãnh thổ Đài Loan, người yêu cầu gửi hồ sơ theo đường bưu chính bằng thư bảo đảm cho Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam.

- Nếu người yêu cầu có địa chỉ liên hệ tại một trong các nước: Bun-ga-ri, Ba Lan, Cu Ba, Cam-pu-chia, Lào, Pháp, Trung Quốc, Triều Tiên và U-rai-na, người yêu cầu gửi hồ sơ cho cơ quan trung ương có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ ủy thác tư pháp của nước đó để chuyển cho Bộ Tư pháp của Việt Nam.

- Nếu người yêu cầu có địa chỉ liên hệ tại một trong các nước:Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan, Hung-ga-ri, Mông Cổ, Nga, Séc và Xlô-va-ki-a, người yêu cầu gửi hồ sơ cho cơ quan trung ương có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ ủy thác tư pháp của nước đó để chuyển cho Bộ Tư pháp của Việt Nam hoặc gửi hồ sơ theo đường bưu chính bằng thư bảo đảm cho Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 13. Thông báo nộp lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoàivà chi phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài

1. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu đã đủ điều kiện thụ lý,Tòa án thông báo cho người yêu cầu nộp lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoàivà chi phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài (sau đây viết tắt là thông báo nộp lệ phí, chi phí tống đạt văn bản tố tụng) theo quy định tại Điều 363 và 430 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Thông báo nộp lệ phí, chi phí tống đạt văn bản tố tụng gồm có các nội dung sau đây:

a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu là cá nhân hoặc tên và địa chỉ của người yêu cầu là cơ quan, tổ chức;

b) Số tiền lệ phí phải nộp; tên, địa chỉ cơ quan thi hành dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thu lệ phí;

c) Thời hạn nộp lệ phí là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 363 của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu có thể ủy quyền cho người khác tại Việt Nam nộp lệ phí;

d) Người yêu cầu còn phải nộp chi phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài, trừ trường hợp ủy quyền cho người khác tại Việt Nam nhận văn bản tố tụng;

đ) Tòa án trả lại đơn yêu cầu nếu người yêu cầu không nộp lệ phí hoặc đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu nếu người yêu cầu không nộp chi phí tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 364, điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án dịch, chứng thực chữ ký của người dịch văn bản thông báo nộp lệ phí, chi phí tống đạt văn bản tố tụng ra tiếng nước ngoài trong trường hợp người yêu cầu ở nước ngoài là cá nhân nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài. Tòa án thanh toán chi phí dịch, chứng thực và chi phí tống đạt thông báo này theo quy định tại Điều 14 của Nghị quyết này.

Điều 14. Tống đạtvăn bản tố tụng ra nước ngoài và thanh toán chi phí tống đạtvăn bản tố tụng

1. Tòa án lập hồ sơ ủy thác tống đạtvăn bản tố tụng cho người yêu cầu theo phương thức quy định tại điểm a hoặc b khoản 1 Điều 474 của Bộ luật tố tụng dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có người đại diện hợp pháp tại Việt Nam hoặc không ủy quyền cho người khác tại Việt Nam nhận văn bản tố tụng;

b) Người yêu cầu không đồng ý nhận văn bản tố tụng thông qua địa chỉ thư điện tử.

2. Tòa án tống đạtvăn bản tố tụng theo đường bưu chính cho người yêu cầu thông qua người đại diện hợp pháp của họ hoặc văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam và các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu có địa chỉ liên hệ tại nước mà nước đó đồng ý hoặc không phản đối nước khác tống đạt văn bản tố tụng theo đường bưu chính cho đương sự tại nước đó;

b) Tòa án yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ trong đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 437 của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án tống đạtvăn bản tố tụng theo quy định tại điểm avà b khoản 2 Điều này bằng dịch vụ bưu chính chuyển phát bưu phẩm bảo đảm có gắn số hiệu để theo dõi, định vị trong quá trình chuyển phát. Thông báo kết quả chuyển phát bưu phẩm của tổ chức bưu chính có giá trị pháp lý xác định kết quả tống đạt văn bản tố tụng.

4. Chi phí tống đạt văn bản tố tụng bao gồm một trong các chi phí sau đây:

a) Chi phí tống đạt hồ sơ ủy thác tư pháp khi tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Chi phí bưu chính; chi phí dịch, công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch khi tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại điểm a hoặc b khoản 2 Điều này.

5. Trách nhiệm thanh toán chi phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài được xác định như sau:

a) Người yêu cầu phải chịu chi phí tống đạt văn bản tố tụng quy định tại khoản 4 Điều này, trừ chi phí quy định tại điểm b khoản này;

b) Tòa án thanh toán chi phí tống đạtvăn bản tố tụng quy định tại Điều 13 của Nghị quyết nàytừ nguồn ngân sách chi thường xuyên hàng năm được giao.

Điều 15. Thông báo thụ lý đơn yêu cầucông nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho Tòa án giấy tờ, tài liệu chứng minh đã nộplệ phí trong thời hạn mà Tòa án thông báo cho họ theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết này.

Điều 16. Yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ trong đơn hoặc trong bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Tòa án yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ trong đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 437 của Bộ luật tố tụng dân sự trong trường hợp nội dung đơn có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nhưng không nêu cụ thể chi tiết.

Ví dụ: Theo nội dung đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án dân sự của Tòa án nước ngoài, giữa người yêu cầu và người phải thi hành đã có thỏa thuận hai bên sẽ cùng ký, thực hiện các hợp đồng mới để thực hiện quyền, nghĩa vụ trong bản án, quyết định đó. Tuy nhiên, nội dung đơn không nêu rõ chi tiết về thỏa thuận nêu trên. Trong trường hợp này, Tòa án phải yêu cầu người yêu cầu giải thích cụ thể về thỏa thuận trong đơn đó để làm căn cứ xem xét khi giải quyết đơn yêu cầu.

2. Tòa án yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định dân sự giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 437 Bộ luật tố tụng dân sự nếu xác định thấy nội dung bản án, quyết địnhđó có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.

Ví dụ: Tòa án yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích nếu xét thấy trong nội dung bản án, quyết định có sự khác nhau giữa con số và chữ viết về khoản tiền liên quan đến tranh chấp, yêu cầu hoặc khoản tiền mà người phải thi hành phải thanh toán, bồi thường cho người yêu cầu.

3. Nếu không nhận được văn bản giải thích của người yêu cầu hoặc của Tòa án nước ngoàitrong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 437 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu, trừ trường hợp có căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.

Điều 17. Nghĩa vụ chứng minh của các đương sự

1. Người yêu cầu công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có nghĩa vụ chứng minh bản án, quyết định đó đáp ứng được các điều kiện sau đây:

a) Bản án, quyết định đó thuộc loại bản án, quyết định được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành theo quy định tại Điều 423 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 2 của Nghị quyết này;

b) Bản án, quyết định đó không trong thời hạn xem xét lại hoặc đang được xem xét lạitheo thủ tục tố tụng thông thường tại nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định;

c) Bản án, quyết định đó có giá trị thi hành tại nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định.

2. Khi phản đối yêu cầu công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 423 và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết này hoặcĐiều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự, người phải thi hành có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lý do phản đối đó.

Điều 18. Quyền hạn của Hội đồng xét đơn yêu cầu

1. Khi thực hiện việc kiểm tra theo quy định tại khoản 4 Điều 438 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét đơn có quyền hạn sau đây:

a) Trường hợp trong quá trình Tòa án nước ngoài giải quyết vụ án dân sự mà người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ cư trú, làm việc, có trụ sở tại Việt Nam, Hội đồng xét đơn có quyền kiểm tra sự hợp lệ, hợp lý của việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài cho người đó để làm căn cứ áp dụng hoặc không áp dụng quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự, không phụ thuộc vào việc người này có cung cấp hay không cung cấp cho Hội đồng xét đơn chứng cứ về việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài;

b) Trường hợp trong quá trình Tòa án nước ngoài giải quyết vụ án dân sự mà người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ không cư trú, làm việc, có trụ sở tại Việt Nam, Hội đồng xét đơn căn cứ chứng cứ do người đó cung cấp để kiểm tra sự hợp lệ, hợp lý của việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài cho họ;

c) Hội đồng xét đơn có quyền kiểm tra các tình tiết khách quan của vụ án, chứng cứ, ý kiến, lập luận của các bên đương sự, luật áp dụng trong bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài để áp dụng hoặc không áp dụng một trong các quy định tại khoản 4, khoản 5 hoặc khoản 8 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ví dụ: Trường hợp người phải thi hành phản đối việc công nhận bản án dân sự của Tòa án nước ngoài giải quyết tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng với lý do Tòa án nước đó không có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 4 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp này, để xác định thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nước ngoài, Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền kiểm tra các tình tiết khách quan của vụ án như: thỏa thuận của các bên về nơi thực hiện hợp đồng hoặc đáng lẽlà nơi thực hiện hợp đồng; địa điểm thực hiện hợp đồng; luật nào được áp dụng cho hợp đồng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về nơi thực hiện hợp đồng và các căn cứ khác quy định tại Điều 440 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Hội đồng xét đơn yêu cầu đượccoilà đã xét xử lại vụ ántheo quy định tại khoản 4 Điều 438 của Bộ luật tố tụng dân sự nếu trong quyết định về việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có một trong các nội dung sau đây:

a) Ý kiến phân tích, nhận định, đánh giá lại của Hội đồng xét đơn đối với yêu cầu khởi kiện, tư cách tham gia tố tụng của đương sự, tình tiết khách quan của vụ án, ý kiến, chứng cứ, lập luận của đương sự trong vụ án;

b) Ý kiến phân tích, nhận định, đánh giá lại của Hội đồng xét đơn đối với quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, việc áp dụng pháp luật nội dung của Tòa án nước ngoài trong việc giải quyết vụ án;

c) Ý kiến phân tích, nhận định, đánh giá lại của Hội đồng xét đơn đối với sự hợp lệ, hợp lý của việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài cho người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ mặc dù đương sự này không cư trú, làm việc, có trụ sở tại Việt Nam trong suốt quá trình Tòa án nước ngoài giải quyết vụ án và không cung cấp được chứng cứ chứng minh Tòa án nước ngoài đã vi phạm nghĩa vụ tống đạt văn bản tố tụngtheo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự;

d) Ý kiến phân tích, nhận định, đánh giá lại của Hội đồng xét đơn đối với quyết định của Tòa án nước ngoài về vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án.

Điều 19. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Hội đồng xét đơn yêu cầu quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây:

1. Bản án, quyết định dân sự đáp ứng được các điều kiện để được công nhận theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2.Bản án, quyết định dân sự không thuộc trường hợp bị từ chối công nhận theo quy định tại Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại quy định tại khoản 3Điều 7 của Nghị quyết này.

Điều 20. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên là bản án, quyết định còn thiếu một trong các điều kiện bắt buộc để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế đó.

Ví dụ: các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây không được công nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 439của Bộ luật tố tụng dân sự:

- Bản án, quyết định thiếu một trong các điều kiện quy định tại Điều 22 Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia;

- Bản án, quyết định thiếu một trong các điều kiện quy định tại Điều 25 của Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ca-dắc-xtan.

Điều21. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chưa có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định cho phép công nhận.

Ví dụ: theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, một số bản án, quyết định của Tòa án sau đây chưa có hiệu lực nhưng vẫn thuộc trường hợp được xem xét công nhận và cho thi hành:

- Bản án, quyết định về cấp dưỡng quy định tại khoản 1 Điều 53 của Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga.

- Bản án, quyết định về cấp dưỡng quy định tại khoản 1 Điều 58 của Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Bê-la-rút.

Điều22. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự

1. Việc triệu tập tham gia phiên tòa của Tòa án nước ngoài đối với người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ được xác định là không hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án nước ngoài đã tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa cho người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ không đúng với quy định của pháp luật nước đó;

b) Tòa án nước ngoài tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa cho người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam theo một trong các phương thức tống đạt mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phản đối khi gia nhập điều ước quốc tế hoặc Tòa án nước ngoài chỉ được phép áp dụng khi cùng với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định phương thức này.

Ví dụ 1: Theo quy định của pháp luật tố tụng của nước nơi Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự, Tòa án chỉ được gửi văn bản tố tụng cho đương sự thông qua hộp thư điện tử sau khi có sự đồng ý hoặc theo đề nghị của đương sự. Tuy nhiên, người phản đối việc công nhận bản án, quyết định dân sự đó đã chứng minh được Tòa án nước ngoài đã gửi văn bản tố tụng triệu tập tham gia phiên tòa thông qua hộp thư điện tử của đương sự này khi chưa có sự đồng ý hoặc đề nghị của đương sự. Trong trường hợp này, việc triệu tập tham gia phiên tòa của Tòa án nước ngoài được xác định là không hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều này.

Ví dụ 2: Khi gia nhập Công ước tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (sau đây viết tắt là Công ước tống đạt giấy tờ) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bảo lưu, phản đối các phương thức tống đạt sau đây được quy định tại Điều 8, điểm b và c Điều 10 của Công ước này:

- Văn bản tố tụng được cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự nước ngoài tống đạt cho đương sự không phải là công dân của nước có cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự đó;

- Văn bản tố tụng được chuyển giao trực tiếp từ nhân viên, Thẩm phán Tòa án, người có thẩm quyền tống đạt của nước yêu cầu tống đạt cho cán bộ, nhân viên, Thẩm phán Tòa án, người có chức năng tống đạt của nước được yêu cầu tống đạt;

- Văn bản tố tụng được chuyển giao trực tiếp từ bất kỳ người nào có liên quan ở nước yêu cầu tống đạt cho cán bộ, nhân viên, Thẩm phán Tòa án, người có chức năng tống đạt của nước được yêu cầu tống đạt.

Trường hợp Tòa án nước ngoài áp dụng một trong các phương thức tống đạt quy định tại Điều 8, điểm b và c Điều 10 của Công ước nêu trên để tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa cho người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, thì việc tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa đó được xác định là không hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm b khoản 1 Điều này.

Ví dụ 3: Khi gia nhập Công ước tống đạt giấy tờ, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố không phản đối phương thức tống đạt văn bản tố tụng theo đường bưu chính bằng thư bảo đảm cho đương sự được quy định tại điểm a Điều 10 của Công ước. Tuyên bố này chỉ có hiệu lực với nước thành viên Công ước tống đạt giấy tờ. Trong trường hợp Tòa án của nước chưa phải là thành viên chính thức của Công ước tống đạt giấy tờ thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng theo đường bưu chính cho đương sự có địa chỉ tại Việt Nam, thì việc tống đạt đó được xác định là không hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm b khoản 1 Điều này.

2. Văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong một thời hạn hợp lý để đương sự thực hiện quyền tự bảo vệtheo quy định tại khoản 3 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự là trường hợp Tòa án nước ngoài tống đạt văn bản tố tụng không đúng quy định của pháp luật nước đó về thời hạn tống đạt văn bản tố tụng.

Ví dụ: Theo quy định của pháp luật tố tụng của nước nơi Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự, Tòa án nước này có nghĩa vụ tống đạt văn bản thông báo về việc khởi kiện của nguyên đơn cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện; tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa chậm nhất 03 tháng trước ngày mở phiên tòa. Tuy nhiên, sau 2 tháng, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Tòa án nước này mới tống đạt thông báo việc khởi kiện và 01 tháng trước ngày mở phiên tòa, mới tống đạt văn bản triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn có địa chỉ liên hệ tại Việt Nam. Trong trường hợp này, Tòa án nước ngoài đã tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự có địa chỉ liên hệ tại Việt Nam không đúng quy định về thời hạn tống đạt của pháp luật nước đó; làm cho đương sự này không có đủ thời gian để thực hiện quyền tự bảo vệ của mình trước Tòa án nước ngoài.

Điều 23. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận theo quy định tại các khoản 4 và 8 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự

1. Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định dân sự được xác định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật tố tụng dân sự nếu thuộcmột trong các trường hợp sau đây:

a) Vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự;

b) Bị đơn sau khi nhận được thông báo của Tòa án nước ngoài hoặc trong quá trình tham gia tố tụng đã có ý kiến phản đối thẩm quyền của Tòa án, yêu cầu Tòa án nước đó từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật áp dụng cho mỗi bên đương sự;

c) Vụ việc dân sự đóđãđược Tòa án nước thứ ba giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án này đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;

d) Vụ việc dân sự đó đã được Tòa án Việt Nam thụ lý trước khi Tòa án nước ngoài thụ lý.

Ví dụ 1: Theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc quy định của pháp luật của nước nơi có Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, các bên đương sự có quyền thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, hòa giải hoặc lựa chọn Tòa án nước khác để giải quyết tranh chấp. Bị đơn và nguyên đơn đã có thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn một trong các phương thức này hoặc lựa chọn Tòa án Việt Nam hoặc Tòa án nước khác để giải quyết tranh chấp.Đây là trường hợp bị đơn căn cứ vào thỏa thuận lựa chọn phương thức tranh chấp để phản đối thẩm quyền của Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.

Ví dụ 2: Theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước nơi có Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện, thì vụ việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nước đó. Đây là trường hợp bị đơn căn cứ vào lý do khác theo quy định của pháp luật áp dụng cho mỗi bên đương sự để phản đối thẩm quyền của Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.

2.Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại khoản 8 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự là hệ thống các nguyên tắcchủ đạo, mang tính pháp lý – chính trịcao nhất để bảo vệ, phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, an ninh – quốc phòng, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ đạo đức xã hội và các giá trị cộng đồng.

Ví dụ: Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trong một số trường hợp sau đây được xác định là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Ví dụ 1: Tòa án có căn cứ xác định việc công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoàisẽ dẫn đến một trong các hậu quả sau đây: xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc,môi trường, sức khỏe của cộng đồng.

Ví dụ 2: Tòa án có căn cứ xác định bản án, quyết định dân sự đã được Tòa án nước ngoài tuyên trên cơ sở bịlừa dối, cưỡng ép, đe dọa hoặc nhận hối lộ.

Điều 24. Hậu quả của việc đình chỉ xét đơn yêu cầu hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

1. Người yêu cầu không có quyền nộp lại đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu theo quy định tại điểmb, c, d khoản 5 Điều 437 của Bộ luật tố tụng dân sự;

b) Tòa án ra quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo quy định tại khoản 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Người yêu cầu có quyền nộp lại đơn yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu đã rút đơn yêu cầu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 437 của Bộ luật tố tụng dân sự;

b) Quyết định của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành bịTòa án cấp trên hủy;

c) Người yêu cầu xác định được địa chỉ của người phải thi hành và địa điểm có tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành;

d)Người yêu cầu xác định được địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam trong trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành không có trụ sở tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt Nam.

đ) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật.

3. Thời hạn người yêu cầu cóquyền nộp lại đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là thời gian còn lại quy định tại khoản 1 Điều 432 của Bộ luật tố tụng dân sự, trừ trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn nộp lại đơn.

4. Đương sự không có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết lại vụ việc dân sự trong các trường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoàigiải quyết vụ việc đókhông đượcTòa án Việt Nam công nhận theo một trong các căn cứ quy định tại khoản 1, 5, 6, 7 và 8 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự, trừcác trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

5. Người yêu cầu, người phản đối việc công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết lại vụ việc dân sự trong trường hợp Tòa án áp dụng một trong các căn cứ sau đây để không công nhận bản án, quyết định dân sự đó:

a) Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 423 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 7 của Nghị quyết này;

b) Căn cứ quy định tại khoản 4Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự với lý do vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam theo quy định tại Điều 469 của Bộ luật dân sự và đã được Tòa án Việt Nam thụ lý trước khi Tòa án nước ngoài thụ lý;

c) Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự với lý do vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo quy định tại Điều 470 của Bộ luật nàyvà hướng dẫn tại Nghị quyết này;

d) Bản án, quyết định giải quyết vụ việc đó đã được Tòa án nước ngoài tuyên trên cơ sở bị lừa dối, cưỡng ép, đe dọa hoặc nhận hối lộ và vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam theo quy định tại Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự;

đ) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài bị hủy bỏ, đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó với lý do tương tự quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 439 của Bộ luật tố tụng dân sự.

6. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết lại vụ việc dân sự sau khi quyết định của Tòa án về việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 5 Điều này đã có hiệu lực. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 25. Thủ tục giải quyết đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam

Thủ tục giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm bản án, quyết địnhdân sự không có yêu cầu thi hành tại Việt Namđược thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng củaNghị quyết này.

Điều 26.Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày….và có hiệu lực thi hành kể từ ngày…...

2. Đối với cácyêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoàimà Toà án đã thụ lý trước khi Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm,thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để giải quyết.

3. Đối với các quyết định của Toà án quy định tại khoản 2 Điều này đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

4. Trong quá trình triển khai thi hành, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Hợp tác quốc tế) để có hướng dẫn kịp thời./.

Nơi nhận:
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội;
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ 02 bản
(để đăng Công báo);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Toà án nhân dân các cấp;
- Các Thẩm phán và các đơn vị TANDTC;

- Cổng thông tin điện tử TANDTC (để đăng);
- Lưu: VT, VHTQT (TANDTC).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN


Nguyễn Hòa Bình

Dự thảo 1.1: Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Loại văn bản Nghị quyết
Cơ quan soạn thảo
Toà án nhân dân tối cao
Ngày soạn thảo 12/05/2020
Ngày hết hạn lấy ý kiến
File toàn văn Dự thảo 1.1: Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về
1 THUYẾT MINH NGHỊ QUYẾT TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI-3-5-2020.docx Tải về
2 NGHỊ QUYẾT CÔNG NHẬN BẢN ÁN NƯỚC NGOÀI.docx Tải về
3 BÁO CÁO TỔNG KẾT BẢN ÁN NƯỚC NGOÀI.docx Tải về

Dự thảo 1.1: Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 311

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Trưởng Ban biên tập: Ông Ngô Tiến Hùng - Chánh Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv