Skip to main content
Dự thảo 3: Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

-------------

Số: ...../2017/NQ-HĐTP

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội … ngày … tháng ... năm 2017

  
   

NGHỊ QUYẾT

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật

trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm

của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng;

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu; một số quy định pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi là Nghị quyết số 42/2017/QH14).

Điều 2. Tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

1. Tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được hướng dẫn tại Nghị quyết này là tranh chấp có đối tượng là khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và tranh chấp liên quan đến khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14.

2. Kèm theo đơn khởi kiện tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14.

3. Trường hợp kèm theo đơn khởi kiện không có tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu và xét thấy cần thiết thì Tòa án yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải xác nhận bằng văn bản khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu theo quy định của khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Điều 3. Thủ tục giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

1. Tòa án áp dụng Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 và các quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật Tố tụng dân sự, trừ quy định tại khoản 1 và 2 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết các tranh chấp sau:

a) Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu;

b) Tranh chấp về hợp đồng tín dụng có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu.

2. Trường hợp tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều này không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhưng đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.

3. Tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại có liên quan đến khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại có liên quan đến khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết theo thủ tục chung.

Ví dụ: Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn, trong đó có chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất mà quyền sử dụng đất đó là tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng của vợ chồng tại Ngân hàng A; Ngân hàng A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trường hợp này, nếu tranh chấp ly hôn đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn; nếu tranh chấp hợp đồng bảo đảm cho hợp đồng tín dụng của vợ chồng đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhưng tranh chấp ly hôn không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án không giải quyết theo thủ tục rút gọn mà áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết theo thủ tục chung.

4. Trường hợp đang giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ thông thường, tranh chấp về hợp đồng tín dụng có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ thông thường nhưng khoản nợ được xác định là nợ xấu trước khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tranh chấp đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14, thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.

Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ thông thường, tranh chấp về hợp đồng tín dụng có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ thông thường nhưng bị Tòa án có thẩm quyền hủy bản án, quyết định để giải quyết lại vụ án mà khoản nợ được xác định là nợ xấu trước khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tranh chấp đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14, thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thực hiện theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Tố tụng dân sự và Mẫu số 77-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự (sau đây gọi là Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP).

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 323 Bộ luật Tố tụng dân sự và Mẫu số 80-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP.

5. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn đối với tranh chấp hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp phát sinh tình tiết mới làm cho vụ án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14 thì Tòa án ra Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường;

b) Trường hợp phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án mà đương sự không thống nhất và xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh tính có căn cứ của tình tiết mới nhưng cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định, định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mới giải quyết được vụ án thì Tòa án ra Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường;

Ví dụ: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng là tài sản chung vợ chồng; hợp đồng bảo đảm có chữ ký của cả vợ và chồng nhưng người chồng cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh chữ ký trong hợp đồng bảo đảm không phải là chữ ký của mình. Trường hợp này, Tòa án cần xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ và tiến hành giám định chữ ký của người chồng. Do vậy, Tòa án phải ra Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

c) Trường hợp cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc không cần phải tiến hành giám định, định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mới giải quyết được vụ án thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn;

d) Trường hợp phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì Tòa án không giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đó trong cùng vụ án đang giải quyết mà hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bằng một vụ án khác; Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.

6. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn đối với tranh chấp hướng dẫn tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, nếu xuất hiện các tình tiết quy định tại khoản 3 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án ra Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

7. Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường tại Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo Mẫu số 79-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP.

Quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường tại Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo Mẫu số 81-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP.

Điều 4. Về thỏa thuận nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài” theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14

1. Thỏa thuận về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 có thể được ghi nhận trong hợp đồng bảo đảm, phụ lục hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có hiệu lực như hợp đồng.

2. Tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tranh chấp không có đương sự trong các trường hợp sau:

a) Đương sự là người Việt Nam nhưng không cư trú tại Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện hoặc khi Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang xét xử theo thủ tục rút gọn theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này. Tòa án xác định việc cư trú theo quy định của Luật Cư trú.

b) Đương sự là người nước ngoài không thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện hoặc khi Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang xét xử theo thủ tục rút gọn theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này. Tòa án xác định việc thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

c) Đương sự là tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 26 Điều 4 Luật Doanh nghiệp mà không ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam tham gia tố tụng.

3. Tranh chấp “không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tranh chấp không có tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện hoặc khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này.

Điều 5. Ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản nợ xấu có quyền ủy quyền cho nhau hoặc ủy quyền cho cá nhân hoặc pháp nhân khác khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

2. Việc ủy quyền theo khoản 1 Điều này phải được lập thành văn bản và xác định rõ phạm vi, nội dung ủy quyền.

Cá nhân được ủy quyền khởi kiện ký vào phần cuối đơn khởi kiện, pháp nhân được ủy quyền khởi kiện thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ký vào phần cuối đơn khởi kiện và đóng đấu của pháp nhân đó; tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và cá nhân đã ủy quyền không phải ký tên, đóng dấu vào đơn khởi kiện. Trường hợp này, các văn bản tố tụng phải ghi rõ tên nguyên đơn là tên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, cá nhân đã ủy quyền; tên người được ủy quyền là pháp nhân, cá nhân được ủy quyền; tên người đại diện hợp pháp của pháp nhân, cá nhân được ủy quyền tham gia tố tụng.

3. Người được ủy quyền là pháp nhân thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được ủy quyền tham gia tố tụng. Pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật thì pháp nhân đó phải có văn bản cử một người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được ủy quyền không thể tham gia tố tụng thì phải có văn bản cử người khác thuộc pháp nhân được ủy quyền tham gia tố tụng.

Cá nhân được ủy quyền được phép ủy quyền cho người thứ ba, pháp nhân được ủy quyền được phép ủy quyền cho người thứ ba không thuộc pháp nhân tham gia tố tụng nếu được cá nhân, pháp nhân ủy quyền cho phép bằng văn bản.

4. Khi giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, nếu hợp đồng ủy quyền được xác lập trước ngày 01-01-2017 giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản nợ xấu với nhau chưa hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và không phát sinh tranh chấp về chính hợp đồng ủy quyền đó thì Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng ủy quyền mà không yêu cầu các bên phải xác lập lại.

Điều 6. Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng

1. Bên mua khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu thì có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bên bán theo quy định tại khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Vụ án dân sự đang được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm mà đương sự thực hiện việc mua bán khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án căn cứ hợp đồng mua bán nợ để xác định tư cách tố tụng của các bên và giải quyết vụ án.

a) Bên mua một phần khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu được kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và tư cách tố tụng như bên bán, tham gia tố tụng cùng bên bán.

b) Bên mua toàn bộ khoản nợ xấu được kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ tố tụng và tư cách tố tụng như bên bán.

Ví dụ: bên bán khoản nợ là nguyên đơn thì bên mua khoản nợ là nguyên đơn; bên bán khoản nợ là bị đơn thì bên mua khoản nợ là bị đơn; bên bán khoản nợ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì bên mua khoản nợ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

c) Tòa án sửa đổi, bổ sung các thông tin của các đương sự kể từ ngày nhận được hợp đồng mua bán nợ đã có hiệu lực của các bên và ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.

3. Khi giải quyết tranh chấp về khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đã được mua bán, Tòa án xác định bên bán khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 7. Về tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14

1. Trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc ra quyết định mở thủ tục phá sản thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu không có quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản.

2. Trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của bên thứ ba mà bên được bảo đảm là doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc ra quyết định mở thủ tục phá sản thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền thu giữ tài sản bảo đảm đó và xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong quá trình giải quyết phá sản theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết này.

Điều 8. Xử lý tài sản bảo đảm là tài sản của bên thứ ba bảo đảm cho khoản nợ xấu của doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị ra quyết định mở thủ tục phá sản

Sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã có khoản nợ là nợ xấu được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba thì theo đề xuất của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoặc theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, Tòa án giải quyết việc xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đó theo quy định tại điểm a, b khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 53 Luật Phá sản.

Điều 9. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm 2017 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày tháng năm 2017 đến ngày Nghị quyết số 42/2017/QH14 hết hiệu lực thi hành.

Tòa án tiếp tục áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết này đối với những vụ án đã được thụ lý trong thời gian Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

2. Đối với những vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý trước khi Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng chưa xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để giải quyết.

3. Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, trừ trường hợp kháng nghị vì lý do khác.

4. Trong quá trình triển khai thi hành, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn kịp thời.

Nơi nhận:
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội;
 
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Chỉ đạo CCTPTƯ;

- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Các Thẩm phán TANDTC;

- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Các TAND và TAQS các cấp;

- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT (VP, Vụ PC&QLKH).

 

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN



Nguyễn Hòa Bình

Dự thảo 3: Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

Loại văn bản
Cơ quan soạn thảo
Ngày soạn thảo 11/07/2018
Ngày hết hạn lấy ý kiến

Dự thảo 3: Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 24

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv