Skip to main content
Dự thảo: Tờ trình về dự án pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

___________________

Số: /TTr-TANDTC

(Dự thảo)

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

TỜ TRÌNH

VỀ DỰ ÁN PHÁP LỆNH XỬ LÝ HÀNH CHÍNH CÁC HÀNH VI
CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Kính trình: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

  Thực hiện Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII; Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH13 ngày 20-7-2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Toà án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng dự án Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân (sau đây gọi là Pháp lệnh). Thay mặt Ban soạn thảo, Toà án nhân dân tối cao xin kính trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH PHÁP LỆNH

Ở nước ta cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định có hệ thống về việc xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân mà mới chỉ có một số quy định về việc xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự, vi phạm nội quy phiên toà tại một số văn bản quy phạm pháp luật, nhưng cũng chưa cụ thể về các loại hành vi, hình thức xử lý và thẩm quyền xử lý... Trên thực tế các cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân xảy ra nhiều, có xu hướng gia tăng cả trước, trong và sau phiên toà, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc của Toà án. Do chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này, cho nên việc xử lý các hành vi vi phạm gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật quy định về các loại hành vi, hình thức, mức độ xử lý, thẩm quyền xử lý và thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân là hết sức cần thiết, bảo đảm sự tôn nghiêm của Toà án, sự tôn trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Toà án.

II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội
về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII;
Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29-12-2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII; Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII; Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH13 ngày 20-7-2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-TANDTC ngày 15-8-2012 thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự án Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.

Toà án nhân dân tối cao đã tổ chức nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; xây dựng Đề cương dự thảo Pháp lệnh, Đề cương dự thảo Tờ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về Dự án Pháp lệnh; đã tiến hành tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; xây dựng dự thảo Kế hoạch xây dựng Dự án Pháp lệnh, dự thảo Quan điểm chỉ đạo và một số định hướng lớn của việc xây dựng Dự án Pháp lệnh, dự thảo Quy chế hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự án Pháp lệnh; đánh giá tác động và xây dựng Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Pháp lệnh; tổ chức nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước ngoài; tổ chức các cuộc họp, buổi làm việc của Ban soạn thảo, Tổ biên tập để xây dựng dự thảo Pháp lệnh; đăng tải dự thảo lên Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến; tổ chức xin ý kiến của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và các thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; tiếp thu ý kiến đóng góp, hoàn thiện dự thảo Pháp lệnh gửi Uỷ ban tư pháp để thẩm tra.

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ CÁC YÊU CẦU CỦA VIỆC SOẠN THẢO PHÁP LỆNH

Việc soạn thảo dự án Pháp lệnh quán triệt những quan điểm chỉ đạo và yêu cầu sau đây:

1. Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng tại Toà án phù hợp với định hướng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 và Chiến lược, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.

3. Quy định đầy đủ và toàn diện các vấn đề cốt yếu (các nguyên tắc, hành vi, hình thức, mức, thẩm quyền, thủ tục xử lý...) về xử lý vi phạm hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng tại Toà án nhân dân nhằm khắc phục một cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng hiện nay.

4. Kế thừa, trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính nói chung và trong hoạt động tố tụng tại Toà án nói riêng, kinh nghiệm xử lý các hành vi vi phạm hành chính từ thực tiễn xét xử của Toà án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội của nước ta và của quá trình hội nhập quốc tế.

5. Bảo đảm các quy định của Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

IV. NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO PHÁP LỆNH   Dự thảo Pháp lệnh gồm 7 chương, 49 điều; cụ thể như sau:

1. Chương I - Những quy định chung (gồm có 16 điều, từ Điều 1 đến Điều 16)

Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; đối tượng và hình thức bị xử lý; những hình thức xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; trách nhiệm phòng, chống hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; thời hiệu xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; bồi thường thiệt hại; khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý hành chính hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; giám sát công tác xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân và áp dụng Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Chương II - Hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân, hình thức, mức xử lý (gồm có 10 Điều, từ Điều 17 đến Điều 26)

Chương này quy định các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; xử lý các hành vi vi phạm trật tự, nội quy phiên toà, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Toà án, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khoẻ của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên và công chức, viên chức khác của Toà án, cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án, cản trở việc giao, nhận, cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Toà án nhân dân, cản trở việc thi hành quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án nhân dân, cản trở việc thi hành lệnh, quyết định áp dụng, thay thế hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn của Toà án nhân dân, cản trở cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng theo yêu cầu của Toà án và cản trở việc thành lập, tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật phá sản theo yêu cầu của Toà án.

3. Chương III - Thẩm quyền xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân (gồm có 2 điều, Điều 27 và Điều 28)

Chương này quy định về thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản, Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Chánh tòa Toà chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh tòa Toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong xử lý hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.

4. Chương IV - Thủ tục xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân (gồm có 5 điều, từ Điều 29 đến Điều 33)

Chương này quy định về xlý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không phải lập biên bản; quy định việc lập biên bản về hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; về quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; thủ tục xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân bằng hình thức cảnh cáo và thủ tục xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân bằng hình thức phạt tiền.

5. Chương V - Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân (gồm có 7 điều, từ Điều 34 đến Điều 40)

Chương này quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân bao gồm dẫn giải người làm chứng, tạm giữ người theo thủ tục hành chính, tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân, khám người theo thủ tục hành chính, khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện được sử dụng để cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.

6. Chương VI - Thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân (gồm có 6 điều, từ Điều 41 đến Điều 46)

Chương này quy định về thời hiệu thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân; về việc thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân bằng hình thức cảnh cáo; chấp hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân bằng hình thức phạt tiền; thi hành quyết định về việc buộc rời khỏi phòng xử án; thi hành quyết định tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân và cưỡng chế thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân

7. Chương VII - Điều khoản thi hành (gồm có 3 điều, từ Điều 47 đến Điều 49)

Chương này quy định về xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân có yếu tố nước ngoài; về hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn thi hành.

V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA DỰ THẢO PHÁP LỆNH CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về tên Pháp lệnh

Về vấn đề này, có hai loại ý kiến khác nhau như sau:

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị lấy tên Pháp lệnh theo Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII là “Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân”, vì mục đích xây dựng Pháp lệnh này là để xử lý các hành vi cản trở Toà án thực hiện các nhiệm vụ để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Loại ý kiến thứ hai đề nghị lấy tên Pháp lệnh là “Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng”. Loại ý kiến này đề nghị xây dựng Pháp lệnh để xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của tất cả các giai đoạn tố tụng, chứ không chỉ xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.

Dự thảo Pháp lệnh thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

2. Về phạm vi điều chỉnh

Về vấn đề này, có các loại ý kiến khác nhau như sau:

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị xây dựng Pháp lệnh theo hướng quy định việc xử lý hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong quá trình Toà án nhân dân giải quyết vụ việc (bao gồm cả hành vi cản trở người tham gia tố tụng và những người khác thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của Toà án). Ý kiến này đề nghị không mở rộng phạm vi quy định xử lý hành chính đối với tất cả các giai đoạn tố tụng.

- Loại ý kiến thứ hai đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh theo hướng quy định xử lý hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của các giai đoạn tố tụng và cả giai đoạn thi hành án.

- Loại ý kiến thứ ba đề nghị chỉ quy định việc xử lý hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án và cán bộ, công chức khác của Toà án và Kiểm sát viên tham gia phiên toà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà không quy định việc xử lý đối với các hành vi cản trở những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Toà án như cản trở người giám định, người phiên dịch, người tham gia tố tụng đến Toà án, đến phiên toà...

Dự thảo Pháp lệnh thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

3. Thẩm quyền thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân

Về vấn đề này có hai loại ý kiến khác nhau như sau:

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định giao cho cơ quan Công an (bao gồm cả lực lượng Công an xã) và lực lượng bảo vệ tại Toà án thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân để bảo đảm việc thi hành hiệu quả, kịp thời.

- Loại ý kiến thứ hai đề nghị quy định chỉ giao cho lực lượng chính quy là cơ quan Công an vì việc thi hành quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng liên quan đến quyền cơ bản của công dân.

Dự thảo Pháp lệnh thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

Trên đây là những nội dung chính của dự thảo Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân. Thay mặt Ban soạn thảo, Toà án nhân dân tối cao xin kính trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

  

Nơi nhận:

- Như trên;

- Uỷ ban tư pháp của Quốc hội;

- Uỷ ban pháp luật của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chính phủ;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Bộ Tư pháp;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Tài chính;

- Bộ Công an;

- Thanh tra Chính phủ;

- Lưu: VP, Viện KHXX (TANDTC).

 

CHÁNH ÁN

Trương Hoà Bình

Dự thảo: Tờ trình về dự án pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân

Loại văn bản
Cơ quan soạn thảo
Ngày soạn thảo 13/07/2018
Ngày hết hạn lấy ý kiến

Dự thảo: Tờ trình về dự án pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 203

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv