Skip to main content
Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO -

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO -

BỘ CÔNG AN - BỘ QUỐC PHÒNG

__________image  

Số: /2009/TTLT-TANDTC-VKSNDTC -BCA-BQP

Dự thảo 3

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------–––––––––––––––

Nội, ngày tháng năm 2009

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

Hướng dẫn một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình

––––––––––––––––––––––––––

Để bảo đảm thực hiện đúng các quy định tại Điều 258 và Điều 259 của Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình; bảo đảm cho công tác thi hành hình phạt tử hình được thực hiện đúng và thống nhất, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng hướng dẫn như sau:

1. Các trường hợp hình phạt tử hình được đưa ra thi hành

1.1. Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và người bị kết án không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

1.2. Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

c) Bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

1.3. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (bao gồm trường hợp kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), bản án phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình phạt tử hình, không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án phúc thẩm và người bị kết án không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Bản án phúc thẩm;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

1.4. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (bao gồm trường hợp kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), bản án phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình phạt tử hình, không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án phúc thẩm và người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Bản án phúc thẩm;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

d) Bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

1.5. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (bao gồm trường hợp kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), nhưng người kháng cáo rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị trước khi xét xử phúc thẩm, không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và người bị kết án không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

1.6. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (bao gồm trường hợp kháng cáo, kháng nghị về hình phạt tử hình và trường hợp kháng cáo, kháng nghị về các quyết định khác của bản án sơ thẩm), nhưng người kháng cáo rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị trước khi xét xử phúc thẩm, không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

1.7. Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có quyết định kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án sơ thẩm và người bị kết án không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà hình sự Toà án nhân dân rối cao;

1.8. Trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có quyết định kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án sơ thẩm và người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị;

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà hình sự Toà án nhân dân rối cao;

d) Bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

1.9. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng bản án phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; có quyết định kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và người bị kết án không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Bản án phúc thẩm;

b) Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên hình phạt tử hình.

1.10. Trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng bản án phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt tử hình; có quyết định kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án tập hợp đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm;

b) Bản án phúc thẩm;

b) Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên hình phạt tử hình;

c) Bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

1.11. Trường hợp người bị kết án có đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm hình phạt tử hình nhưng quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 258 của Bộ luật tố tụng hình sự không có lý do chính đáng hoặc có đơn gửi Chủ tịch nước với nội dung kêu oan, thì cùng với các tài liệu được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.3, 1.5, 1.7, 1.9 mục này, hình phạt tử hình được đưa ra thi hành khi Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án nhận được văn bản của Toà án nhân dân tối cao thông báo ý kiến của Chủ tịch nước về việc không xem xét đơn quá hạn hoặc đơn có nội dung kêu oan của người bị kết án tử hình.

2. Công tác chuẩn bị trước khi ra quyết định thi hành án

2.1. Ngay sau khi nhận đủ các tài liệu để đưa bản án tử hình ra thi hành, Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phải tiến hành kiểm tra lại lý lịch của người bị kết án; yêu cầu cơ quan Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan điều tra trong Quân đội xác minh và thông báo bằng văn bản về việc người bị kết án tử hình không bị điều tra, truy tố về một tội phạm khác, trong một vụ án khác.

2.2. Trường hợp người bị kết án tử hình là phụ nữ, thì ngay sau khi nhận đủ các tài liệu để đưa bản án tử hình ra thi hành, Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phải tổ chức việc phối hợp với trại tạm giam (trại giam) nơi đang giam giữ người bị kết án tiến hành kiểm tra, xác minh về việc người bị kết án không thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự. Nếu có căn cứ người bị kết án thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bằng văn bản để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

2.3. Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm.

Trường hợp một người bị kết án tử hình mà lại bị xét xử về một tội phạm mới tại một Toà án khác (tội phạm mới có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bị kết án tử hình), nhưng bị xử phạt với mức hình phạt không phải là tử hình (dù tổng hợp hình phạt chung cho các bản án là tử hình) thì Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án là Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm về tội phạm mà người bị kết án bị xử phạt tử hình.

Trường hợp một người bị kết án tử hình nhiều lần theo nhiều bản án của các Toà án đã xử sơ thẩm khác nhau thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án là Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm vụ án sau cùng.

3. Ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình

3.1. Sau khi tiến hành kiểm tra lại lý lịch của người bị kết án, xác định người bị kết án không thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự và cũng không thuộc trường hợp đang bị điều tra, truy tố, xét xử về một tội phạm khác, Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình. Trường hợp trong một vụ án có nhiều người bị kết án tử hình thì Chánh án Toà án phải ra quyết định thi hành án đối với từng người bị kết án trong vụ án đó.

3.2. Thành phần Hội đồng thi hành hình phạt tử hình bao gồm đại diện Toà án, Viện kiểm sát và Công an cùng cấp hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội.

a) Đại diện Toà án là Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Trường hợp Chánh án Toà án không tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình được thì ủy quyền cho một Phó Chánh án tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình. Đại diện Toà án tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình là Chủ tịch Hội đồng.

b) Đại diện Viện kiểm sát tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát không tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình được thì ủy quyền cho một Phó Viện trưởng tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

c) Đại diện Công an tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình là Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc ủy quyền cho Phó giám đốc Công an cấp tỉnh phụ trách Phòng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp. Trường hợp thi hành hình phạt tử hình trong Quân đội thì Thủ trưởng trưởng Cơ quan quản lý Cảnh vệ tư pháp trong quân đội nhân dân tham gia Hội đồng.

3.3. Làm thư ký Hội đồng thi hành hình phạt tử hình là cán bộ Toà án, do Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phân công. Thư ký Hội đồng thi hành hình phạt tử hình có trách nhiệm ghi lại toàn bộ các diễn biến của việc thi hành hình phạt tử hình.

3.4. Hội đồng thi hành hình phạt tử hình có trách nhiệm thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bố trí pháp trường cử đại diện tham gia thi hành hình phạt tử hình. Đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã tham gia việc thi hành hình phạt tử hình với tư cách là người chứng kiến, đồng thời có nghĩa vụ lập giấy báo khai tử cho người bị kết án tử hình sau khi thi hành án.

4. Triển khai việc thi hành hình phạt tử hình

4.1. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng thi hành hình phạt tử hình phải tiến hành họp để thống nhất kế hoạch thi hành hình phạt tử hình. Trong kế hoạch thi hành hình phạt tử hình phải xác định cụ thể thời gian, địa điểm thi hành hình phạt tử hình, trách nhiệm của các thành viên của Hội đồng thi hành hình phạt tử hình và công tác phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm thi hành hình phạt tử hình.

4.2. Địa điểm và thời gian họp Hội đồng thi hành hình phạt tử hình do Toà án sắp xếp. Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình chủ trì cuộc họp.

4.3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kế hoạch thi hành hình phạt tử hình được thông qua, hình phạt tử hình phải được đưa ra thi hành, trừ trường hợp hoãn thi hành hướng dẫn tại tiểu mục 7.1 mục 7 Thông tư này.

5. Địa điểm thi hành hình phạt tử hình

5.1. Địa điểm để thi hành hình phạt tử hình là pháp trường của tỉnh, thành phố nơi có Toà án đã ra quyết định thi hành án.

5.2. Trường hợp địa phương không có pháp trường hoặc có pháp trường nhưng ở quá xa trại tạm giam (trại giam) mà việc áp giải người bị kết án đến pháp trường sẽ gặp nhiều khó khăn do đường xa, địa hình hiểm trở... thì Hội đồng thi hành hình phạt tử hình quyết định lựa chọn pháp trường để đảm bảo cho việc thi hành hình phạt tử hình được tiến hành thuận lợi.

6. Trình tự đưa ra thi hành hình phạt tử hình

Việc đưa ra thi hành hình phạt tử hình được thực hiện theo trình tự sau đây:

6.1. Căn cứ vào quyết định thi hành án và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình, thành viên của Hội đồng là đại diện cơ quan Công an nhân dân hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội nhân dân tổ chức thực hiện việc áp giải người bị kết án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

6.2. Cán bộ chuyên môn trong Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra căn cước, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan để xác định đúng người bị đưa ra thi hành hình phạt tử hình là người có quyết định thi hành án; chụp ảnh việc đang làm thủ tục lăn tay, kiểm tra căn cước, lập biên bản và báo cáo Hội đồng thi hành hình phạt tử hình về kết quả kiểm tra căn cước.

6.3. Trường hợp người bị kết án tử hình là phụ nữ thì Hội đồng thi hành hình phạt tử hình phải tiến hành kiểm tra lại các tài liệu xác định họ không thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình.

6.4. Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình công bố quyết định thi hành án và yêu cầu Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp trong Công an nhân dân hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội nhân dân giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trường hợp Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị nhưng không được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận thì giao cho người bị kết án đọc bản sao quyết định giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm) của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình; trường hợp người bị kết án gửi đơn xin ân giảm hình phạt tử hình quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 258 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đơn có nội dung kêu oan thì giao cho họ đọc văn bản thông báo ý kiến của Chủ tịch nước về việc không xem xét đơn quá hạn hoặc đơn có nội dung kêu oan của người bị kết án tử hình. Cán bộ chuyên môn trong Công an nhân dân hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội nhân dân tiến hành chụp ảnh người bị kết án khi họ đang đọc các văn bản này.

Trường hợp người bị kết án từ chối đọc các văn bản trên đây, không biết chữ hoặc không biết tiếng Việt thì Hội đồng thi hành hình phạt tử hình phân công người đọc hoặc phiên dịch các văn bản đó cho người bị kết án nghe.

6.5. Trước khi áp giải người bị kết án ra pháp trường, Công an nhân dân hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội nhân dân cho người bị kết án ăn, uống, viết thư hoặc ghi âm lời nói gửi lại thân nhân.

6.6. Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình, Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp trong Công an nhân dân hoặc Cảnh vệ tư pháp trong Quân đội nhân dân thực hiện việc xử bắn người bị kết án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

6.7. Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình, giám định viên trong Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành việc kiểm tra tình trạng của người đã bị thi hành hình phạt tử hình và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

6.8. Sau khi xác định người bị thi hành phạt tử hình đã chết, cán bộ chuyên môn trong Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân chụp một kiểu ảnh của người bị thi hành hình phạt tử hình đã chết.

6.9. Hội đồng thi hành hình phạt tử hình lập biên bản ghi rõ quá trình, kết quả thi hành hình phạt tử hình và giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành hình phạt tử hình làm thủ tục khai tử theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

6.10. Hội đồng thi hành hình phạt tử hình giao cho trại tạm giam (trại giam) tổ chức an táng người đã bị thi hành hình phạt tử hình.

6.11. Trại tạm giam (trại giam) nơi đã giam giữ người bị kết án tử hình có trách nhiệm thông báo cho thân nhân của người bị kết án tử hình biết và giao cho họ tiền, tài sản, thư tín mà người bị kết án tử hình để lại (nếu có).

6.12. Toàn bộ tài liệu trong quá trình thi hành hình phạt tử hình phải được thu thập đầy đủ và lưu hồ sơ. Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có trách nhiệm báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao bằng văn bản về kết quả thi hành hình phạt tử hình.

7. Hoãn thi hành hình phạt tử hình

7.1. Hội đồng thi hành hình phạt tử hình quyết định hoãn thi hành trong các trường hợp sau đây:  

a) Có những thông tin do người bị kết án hoặc người khác khai báo hoặc do Hội đồng thi hành hình phạt tử hình biết được từ những nguồn tin khác mà xét thấy những thông tin này là có căn cứ và có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, là chứng cứ để khởi tố vụ án mới, người phạm tội mới và nếu thi hành hình phạt tử hình đối với người bị kết án thì có thể gây khó khăn lớn cho việc giải quyết vụ án, việc mở rộng điều tra vụ án;

b) Hội đồng thi hành hình phạt tử hình nhận được yêu cầu của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ trưởng Bộ Công an về việc hoãn thi hành hình phạt tử hình;

c) Có nghi ngờ về căn cước của người bị đưa ra thi hành án;

d) Trở ngại khách quan (như: thiên tai, bão, lụt…) không đảm bảo điều kiện để thi hành hình phạt tử hình.

7.2. Quyết định hoãn thi hành hình phạt tử hình được gửi cho các cơ quan phối hợp thi hành hình phạt tử hình và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

7.3. Hình phạt tử hình được tiếp tục thi hành trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với trường hợp nêu tại điểm a và điểm b tiểu mục 7.1 mục này, hình phạt tử hình tiếp tục được thi hành sau khi Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án nhận được văn bản chỉ đạo của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;

b) Đối với trường hợp có nghi ngờ về căn cước của người bị đưa ra thi hành án thì hình phạt tử hình được tiếp tục thi hành sau khi có kết quả xác minh về việc người bị đưa ra thi hành án là người đã bị kết án tử hình và có quyết định thi hành;

c) Đối với trường hợp do trở ngại khách quan thì hình phạt tử hình được tiếp tục thi hành sau 24 giờ, kể từ khi trở ngại khách quan được khắc phục.

8. Trường hợp người bị kết án tử hình chết trước khi bản án được thi hành

8.1 Trường hợp người bị kết án tử hình chết trước khi bản án được đưa ra thi hành thì trại tạm giam (trại giam) có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan y tế cấp huyện hoặc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và bệnh viện quân khu nơi có trại giam đến xác định nguyên nhân chết và lập biên bản về việc người bị kết án tử hình đã chết; làm thủ tục khai tử với chính quyền địa phương và tổ chức an táng.

8.2. Kinh phí an táng do ngân sách Nhà nước cấp trong kinh phí thi hành hình phạt tử hình.

8.3. Sau khi làm thủ tục an táng, trại tạm giam (trại giam) có trách nhiệm thông báo cho nhân thân người chết biết, sau đó thông báo bằng văn bản cho Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Trường hợp người bị kết án tử hình chết là người nước ngoài thì trại tạm giam (trại giam) phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan lãnh sự của Bộ ngoại giao Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch.

8.4. Ngay sau khi an táng người bị kết án tử hình, trại tạm giam (trại giam) phải gửi ngay toàn bộ tài liệu về việc người bị kết án tử hình chết cho Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phải kiểm tra lại các tài liệu liên quan đến việc thi hành án đối với người bị kết án tử hình đã chết và tuỳ từng trường hợp được xử lý như sau:

a) Trường hợp Toà án đã nhận đủ các tài liệu cần thiết để đưa bản án ra thi hành, đã ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án ra quyết định đình chỉ việc thi hành hình phạt tử hình vì lý do người bị kết án tử hình đã chết.

b) Trường hợp người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình nhưng chưa có quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Chủ tịch nước chưa có quyết định bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì Chánh án Toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phải báo cáo ngay cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết để dừng việc xem xét các thủ tục trước khi đưa bản án tử hình ra thi hành. Trong trường hợp này, nếu có căn cứ về việc quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án đã chết là không đúng, thì việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án vẫn được tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều 278 hoặc khoản 2 Điều 295 của Bộ luật tố tụng hình sự.

c) Trường hợp đã có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (tái thẩm) của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì phải mở phiên toà giám đốc thẩm (tái thẩm) trong thời hạn quy định tại Điều 283 của Bộ luật tố tụng hình sự.

9. Hiệu lực thi hành

9.1. Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày ký ban hành; các hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trái với Thông tư này đều bãi bỏ.

9.2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, đề nghị báo cáo cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

CHÁNH ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

KT. VIỆN TRƯỞNG

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

KT. BỘ TRƯỞNG

BỘ QUỐC PHÒNG

THỨ TRƯỞNG

KT. BỘ TRƯỞNG

BỘ CÔNG AN

THỨ TRƯỞNG

Trương Hoà Bình

Hoàng Nghĩa Mai

Thượng tướng Phan Trung Kiên

Thượng tướng Lê Thế Tiệm

Nơi nhận:

- Uỷ ban tư pháp của Quốc hội (để báo cáo);

- Toà án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Công an;

- Bộ Quốc phòng;

- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);

- Lưu TANDTC (VP, Viện KHXX).

Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình.

Loại văn bản Thông tư
Cơ quan soạn thảo
Ngày soạn thảo 14/07/2018
Ngày hết hạn lấy ý kiến
File toàn văn Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình.

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về

Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn một số vấn đề về thi hành hình phạt tử hình.

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 233

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv