Skip to main content
Dự thảo Báo cáo tiếp thu chỉnh lý, giải trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Số: /BC-UBTVQH14

Dự thảo ngày 10/03/2017

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

BÁO CÁO

Tiếp thu chỉnh lý, giải trình dự thảo

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

Kính gửi: các vị Đại biểu Quốc hội.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội đã thảo luận và cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (dự án Luật). Ngay sau kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Ủy ban tư pháp (UBTP) phối hợp cùng Cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan tích cực nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) để tiếp thu chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật trên quan điểm:

Rà soát, sửa đổi những sai sót về kỹ thuật, những quy định chưa thật sự hợp lý về nội dung mà các ngành cơ bản đã thống nhất phải sửa để thuận lợi cho việc thi hành; một số trường hợp mặc dù chỉ sửa một lỗi kỹ thuật nhưng lại liên quan đến nhiều điều luật thì vẫn phải rà soát để sửa đổi những điều luật đó nhằm bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ Bộ luật;

Bổ sung một số vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn sau khi Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS năm 2015) được thông qua để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới;

Việc sửa đổi, bổ sung không làm thay đổi những chính sách hình sự lớn đã được cơ quan có thẩm quyền cho ý kiến và Quốc hội khóa XIII quyết định; không dẫn đến phải sửa đổi, bổ sung các đạo luật đang lùi hiệu lực thi hành cùng với BLHS năm 2015;

Đối với một số điều luật của BLHS năm 2015 mặc dù đã được định lượng chi tiết nhưng việc định lượng đó chưa hợp lý thì đề nghị giữ lại như cách quy định của BLHS năm 1999.

Đến nay, các nội dung của dự thảo Luật đã đạt được sự thống nhất cao giữa UBTP, Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành liên quan. Tại phiên họp thứ 7 (ngày 20/2/2017), UBTVQH đã thảo luận, cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự thảo Luật này theo Báo cáo số 462/BC-UBTP14 ngày 17/02/2017 của UBTP. Sau phiên họp, UBTVQH đã chỉ đạo UBTP và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của UBTVQH. UBTVQH trân trọng báo cáo Quốc hội các nội dung tiếp thu chỉnh lý, giải trình về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 (sau đây gọi là dự thảo Luật đã được chỉnh lý) như sau:

I. PHẦN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1.1. Về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại (Điều 9 của BLHS năm 2015)

Nhiều ý kiến tán thành với việc bổ sung quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại tại khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật do Chính phủ trình, theo đó, nên áp dụng viện dẫn cách phân loại đối với cá nhân phạm tội. Có ý kiến đề nghị cần phân loại cụ thể đối với pháp nhân thương mại phạm tội trên cơ sở hình phạt tiền áp dụng cho pháp nhân thương mại phạm tội. Ý kiến khác đề nghị không cần phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại mà áp dụng Điều 74 và Điều 75 của BLHS năm 2015 là phù hợp.

UBTVQH tán thành với cách phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại do Chính phủ trình theo hướng viện dẫn cách phân loại đối với cá nhân phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện để quy định tương ứng hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại. Cách quy định này cơ bản phù hợp trong điều kiện lần đầu tiên BLHS quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Tiếp thu ý kiến của nhiều ĐBQH, Điều 9 dự thảo Luật cơ bản giữ như Chính phủ trình được chỉnh lý thêm về kỹ thuật để bảo đảm khoa học, dễ hiểu hơn.

Có ý kiến cho rằng, việc phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại chưa đề cập đến hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạnđình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chưa phù hợp.

UBTVQH nhận thấy, Điều 9 của dự thảo Luật do Chính phủ trình phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại không căn cứ vào hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại mà căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện để quy định tương ứng hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại, trên cơ sở đó xác định pháp nhân thương mại phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Mặt khác, hình phạt “đình chỉ hoạt động vĩnh viễn” của pháp nhân thương mại có thể áp dụng đối với mọi loại tội do pháp nhân thương mại thực hiện nếu pháp nhân đó thành lập chỉ nhằm mục đích thực hiện tội phạm. Vì vậy, việc căn cứ vào hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn” và “đình chỉ hoạt động vĩnh viễn để phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại là không hợp lý, đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo do Chính phủ trình.

1.2. Về mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Có ý kiến đề nghị mở rộng trách nhiệm hình sự đối với tất cả các pháp nhân mà không giới hạn chỉ đối với pháp nhân thương mại. Ý kiến khác đề nghị không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nhất là các tội phạm về kinh tế và môi trường, phù hợp với xu hướng chung của quốc tế. Việc chỉ quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đã được Quốc hội khóa XIII thảo luận kỹ, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền và lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội không mở rộng trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân khác mà chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.

Có ý kiến đề nghị mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324).

UBTVQH nhận thấy, theo báo cáo của Cơ quan chủ trì soạn thảo và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì một số công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên (như Công ước của Liên hợp quốc năm 1988 về chống vận chuyển trái phép ma túy và các chất hướng thần, Công ước của Liên hợp quốc về ngăn chặn tài trợ cho khủng bố năm 1999, Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia…) bắt buộc các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải hình sự hóa hành vi phạm tội rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với pháp nhân phạm tội. Theo chu kỳ, năm 2018, quốc tế sẽ tiến hành rà soát, đánh giá về những tiến triển của Việt Nam trong công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Nếu Việt Nam không thực hiện cam kết với quốc tế về việc bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội rửa tiền và tài trợ khủng bố thì nước ta sẽ có nguy cơ bị xếp hạng “không tuân thủ” và bị đưa trở lại vào danh sách các quốc gia thiếu hụt về cơ chế chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, phải chịu sự rà soát của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố (FATF) như đã từng bị vào năm 2010, gây ảnh hưởng bất lợi đối với Việt Nam về nhiều mặt1.

Vì vậy, UBTVQH cho rằng, trong điều kiện hiện nay cần thiết phải xem xét việc bổ sung quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội tài trợ khủng bố và Tội rửa tiền. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị cân nhắc thận trọng vì đây là vấn đề mới, có liên quan đến chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta và đã được Quốc hội khóa XIII xem xét, cho ý kiến. Do đó, UBTVQH xin ý kiến ĐBQH về 02 phương án như sau:

Phương án 1: Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội rửa tiền và Tội tài trợ khủng bố. Cụ thể như sau:

Điều 300. Tội tài trợ khủng bố

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

Điều 324. Tội rửa tiền

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm

”.

Phương án 2: Không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324).

1.3. Về các quy định khác có liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội

Có ý kiến cho rằng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: “được xã hội thừa nhận tại điểm c khoản 2 Điều 29 của BLHS năm 2015 là không rõ ràng, khó áp dụng trên thực tiễn, cần phải quy định cụ thể để bảo đảm áp dụng thống nhất.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 29 dự thảo Luật đã được chỉnh lý, bỏ tình tiết “được xã hội thừa nhận tại điểm c khoản 2.

Có ý kiến đề nghị cân nhắc khoản 1 Điều 75 về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và cho rằng, chỉ nên quy định pháp nhân thương mại có một trong các điều kiện được quy định tại các điểm a, b hoặc c là có thể truy cứu trách nhiệm hình sự mà không cần phải có đủ tất cả các điều kiện này.

UBTVQH nhận thấy, các điều kiện được quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 75 có sự liên quan chặt chẽ với nhau, nếu thiếu một trong các điều kiện này thì không thể xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại mà chỉ xem xét được trách nhiệm hình sự của cá nhân trong pháp nhân đó. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

2. Về nguyên tắc xử lý (Điều 3 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 3 vì đây là các nguyên tắc trong tố tụng hình sự.

UBTVQH cho rằng, việc quy định các nguyên tắc này nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời kế thừa quy định của BLHS năm 1999. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

3. Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015)

a) Về các tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Có ý kiến cho rằng cách quy định liệt kê một số tội mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như BLHS năm 2015 là chưa hợp lý. Do đó, cần lấy lại cách quy định chung (không liệt kê) như BLHS năm 1999 là: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Ý kiến khác tán thành với việc liệt kê các tội mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như khoản 2 Điều này, nhưng đề nghị bổ sung Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) nhằm xử lý nghiêm các hành vi này.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phù hợp với nguyên tắc tiến bộ, nhân đạo, có bước tiến mới đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Những người này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự giới hạn trong 28 tội danh đã liệt kê mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như BLHS năm 1999. Quy định này nhằm bảo đảm tính nhân đạo trong xử lý người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và xu hướng chung của quốc tế (BLHS Trung Quốc quy định các đối tượng này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 09/347 tội danh; BLHS Liên bang Nga quy định 20/256 tội danh). Vấn đề này cũng đã được Quốc hội khóa XIII thảo luận kỹ, xin ý kiến nhân dân và xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền trước khi quyết định. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

b) Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội hiếp dâm (Điều 141) và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169)

Đa số ý kiến2 đề nghị không sửa đổi khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015, theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội hiếp dâm và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản kể cả trường hợp phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.

Một số ý kiến tán thành với quy định của dự thảo Luật do Chính phủ trình là không xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 đã quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì còn phải chịu trách nhiệm hình sự cả về loại tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội hiếp dâm và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống bạo lực học đường đang có xu hướng diễn biến phức tạp trong thời gian gần đây. Vấn đề này đã được lấy ý kiến nhân dân, Quốc hội khóa XIII thông qua. Kết quả phiếu thăm dò ý kiến ĐBQH tại Kỳ họp thứ 2, có 266/397 ĐBQH đồng ý với phương án vẫn cần thiết xử lý hình sự người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về cả loại tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội hiếp dâm và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, trong quá trình chỉnh lý, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, UBTP, Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam lại cho rằng, việc xử lý hình sự người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về cả tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng đối với 03 tội danh nêu trên là quá nặng, chưa nhất quán về chính sách hình sự của BLHS năm 2015 (thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi), đồng thời chưa phù hợp nguyên tắc “những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” đã được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Đối với trường hợp phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng chỉ nên áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng như giáo dục tại xã, phường, thị trấn; hòa giải tại cộng đồng; khiển trách; xử lý hành chính vì xét dưới góc độ tâm, sinh lý thì ở độ tuổi này các em cần sự giáo dục hơn là sự trừng phạt, giúp các em nhận thức sai lầm để tiếp tục học tập, rèn luyện. Xử lý hình sự chỉ là biện pháp cuối cùng. Việc quy định xử lý hình sự quá rộng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi tiềm ẩn nguy cơ sớm đưa các em vào vòng tố tụng; đây không phải là phương án tốt nhất để giáo dục các em trở thành người tốt cho xã hội. Do đó, cần thiết quy định chỉ xử lý hình sự người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng ở 03 tội danh trên.

Do còn ý kiến khác nhau, UBTVQH xin trình hai phương án để Quốc hội cân nhắc quyết định:

Phương án 1: Giữ như quy định của BLHS năm 2015, theo đó đối với 03 tội: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội hiếp dâm (Điều 141) và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về cả tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.

Phương án 2: Giữ như dự thảo Luật do Chính phủ trình, theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng đối với 03 tội danh trên.

4. Về chuẩn bị phạm tội (Điều 14 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị lấy lại quy định về khái niệm chuẩn bị phạm tội của BLHS năm 1999 là: “tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, không bổ sung hành vithành lập, tham gia nhóm tội phạm vì chồng chéo với nhiều điều luật khác.

UBTVQH nhận thấy, qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm thời gian qua cho thấy tình trạng thành lập, tham gia nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” hoặc tổ chức để chuyên thực hiện tội phạm đã xuất hiện ở một số địa phương, nếu không có các quy định nhằm ngăn chặn sớm sẽ có nguy cơ gây bất ổn, mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, việc mở rộng khái niệm chuẩn bị phạm tội như khoản 1 Điều 14 là cần thiết. Quy định này cũng không dẫn đến mâu thuẫn với các điều luật được loại trừ như Điều 109, Điều 113 và Điều 299 (hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm đã cấu thành tội độc lập). Đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến cho rằng, quy định liệt kê các trường hợp cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội như BLHS năm 2015 là bảo đảm minh bạch trong chính sách hình sự.

Ý kiến khác đề nghị lấy lại quy định của BLHS năm 1999 là “người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự” để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

UBTVQH nhận thấy, cách quy định của BLHS năm 1999 dẫn đến có trường hợp chính sách hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội (hậu quả chưa xảy ra) lại có thể nặng hơn đối với người đã thực hiện tội phạm (hậu quả đã xảy ra) là không công bằng. Hơn nữa, đối với các tội có cấu thành vật chất (việc định tội, định khung hình phạt phải căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế) thì khi chưa có hậu quả xảy ra sẽ không xác định được người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội thuộc khung hình phạt nào. BLHS năm 2015 đã liệt kê cụ thể các tội mà người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự là đã khắc phục được các hạn chế nêu trên. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

5. Về đồng phạm (Điều 17 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung trường hợp đồng phạm giữa cá nhân với pháp nhân thương mại phạm tội vào dự thảo Luật.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, khoản 5 Điều 17 trong dự thảo Luật đã được chỉnh lý để bảo đảm bao quát cả các trường hợp đồng phạm giữa cá nhân với pháp nhân thương mại.

Có ý kiến đề nghị bỏ khoản 4 Điều 17 về “người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành” để bảo đảm hợp lý hơn về chính sách hình sự. Ý kiến khác đề nghị giữ quy định này để bảo đảm tính minh bạch của BLHS.

UBTVQH nhận thấy, một trong những nguyên tắc quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự là căn cứ vào lỗi của người phạm tội; đối với hành vi vượt quá của người thực hành thì người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự do họ không có lỗi đối với hành vi vượt quá của người thực hành. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

6. Về không tố giác tội phạm (Điều 19 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị không quy định trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm đối với tội đặc biệt nghiêm trọng (trừ một số tội xâm phạm an ninh quốc gia) để bảo đảm phù hợp với hoạt động hành nghề của Luật sư. Ý kiến khác đề nghị quy định Luật sư chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác.

UBTVQH nhận thấy, Điều 22 của BLHS năm 1999 quy định người bào chữa (trong đó cả Luật sư) phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm đối với tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. BLHS năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa bảo đảm phù hợp với đặc thù hoạt động bào chữa, theo đó, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Ngay cả những người ruột thịt của người phạm tội như: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của họ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác các tội nêu trên. Bên cạnh đó, Điều 9 của Luật luật sư quy định: nghiêm cấm Luật sư thực hiện hành vi “tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”. Như vậy, nếu pháp luật có quy định các trường hợp Luật sư bắt buộc phải tiết lộ về thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề thì Luật sư vẫn phải thực hiện theo quy định đó, nên quy định tại Điều 19 của BLHS năm 2015 không trái với quy định trên của Luật luật sư. Đồng thời, Điều 5 của Luật luật sư quy định nguyên tắc hành nghề luật sư là: “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan” và Điều 73 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định: Luật sư có nghĩa vụ “tôn trọng sự thật”; do đó, để bảo đảm mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm thì quy định này là phù hợp. Đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

7. Về phạt tiền (Điều 35 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị loại trừ hình phạt tiền đối với tội phạm rất nghiêm trọng về môi trường tại điểm b khoản 1 Điều này, vì các tội phạm về môi trường không có tội nào quy định hình phạt tiền đối với loại tội rất nghiêm trọng.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý, bỏ từ “môi trường” tại điểm b khoản 1 Điều 35.

Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung: hình phạt tiền là hình phạt chính chỉ được áp dụng khi điều luật thuộc Phần các tội phạm có quy định, tránh trường hợp nếu điều luật không quy định hình phạt tiền thì Tòa án vẫn có thể áp dụng Điều 35 để áp dụng hình phạt tiền.

UBTVQH nhận thấy, hình phạt chính là hình phạt tiền được áp dụng khi điều luật ở Phần các tội phạm có quy định; trong một số trường hợp, mặc dù điều luật không quy định, nhưng nếu có đủ căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 54 BLHS năm 2015 về Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thì Toà án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn (trong đó có hình phạt tiền). Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

8. Về hình phạt tử hình (Điều 40 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị khôi phục lại hình phạt tử hình đối với một số tội danh như: Cướp tài sản; Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia…; đồng thời vẫn phải áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên để bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.

UBTVQH nhận thấy, thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về hạn chế hình phạt tử hình, bảo đảm nhân đạo và phù hợp với xu thế chung của pháp luật hình sự trên thế giới, việc bỏ hình phạt tử hình ở tội danh nào, không áp dụng với đối tượng nào đã được Quốc hội khóa XIII cân nhắc kỹ và xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền trước khi quyết định. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

9. Về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị sửa đổi lại điểm c khoản 1 Điều này để bảo đảm có cách hiểu thống nhất là trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng thì người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

ý kiến cho rằng, điểm đ khoản 1 Điều này còn thiếu nhiều trường hợp theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 66 của dự thảo Luật đã đưa nội dung điểm c lên đoạn đầu khoản 1; quy định viện dẫn pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng để bao quát hết các trường hợp người có công với cách mạng; đồng thời thay cụm từ “nghĩa vụ bồi thường dân sự” bằng cụm từ “nghĩa vụ bồi thường thiệt hại” cho phù hợp với các quy định khác trong Bộ luật (Điều 48).

10. Về hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị không hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội về ma túy vì nguy cơ gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội.

UBTVQH cho rằng, quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù là thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta và phải được áp dụng bình đẳng đối với mọi người phạm tội. Theo đó, khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 67 thì người phạm tội có thể được Tòa án xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù, không phân biệt tội phạm về ma túy hay các tội phạm khác (kể cả tội xâm phạm an ninh quốc gia). Vì vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

11. Về xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung trường hợp người chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo vào điểm a khoản 2 Điều này. Ý kiến khác đề nghị giữ như quy định của BLHS năm 2015 và cho rằng, án treo thực chất là trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, do đó áp dụng thời hiệu xoá án tích của hình phạt tù là phù hợp.

Có ý kiến đề nghị cần cân nhắc để giảm thời hạn xoá án tích đối với người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và phạt tù nhưng cho hưởng án treo phải thấp hơn thời hạn xóa án tích đối với người bị áp dụng hình phạt tù đến 05 năm.

UBTVQH nhận thấy, khoản 2 Điều 71 quy định thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án không liệt kê trường hợp người người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo (trong khi đó khoản 2 Điều 70 về đương nhiên được xóa án tích lại có quy định áp dụng đối với trường hợp người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo) là chưa đồng bộ, cần phải bổ sung. Đồng thời, việc quy định thời hạn Tòa án xem xét xóa án tích cho người phạm tội áp dụng hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ bằng thời hạn đối với người chấp hành án phạt tù đến 05 năm là thiếu công bằng. Do đó, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý Điều 71 theo hướng bổ sung trường hợp người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo; đồng thời phân định rõ thời hạn xóa án tích như sau: trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì hạn được Tòa án xem xét xóa án tích là 02 năm; trường hợp bị phạt tù đến 05 năm thì thời hạn được Tòa án xem xét xóa án tích là 03 năm.

12. Về Khiển trách (Điều 93 Điều 94 của BLHS năm 2015) và Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ Điều 93 (khiển trách) và Điều 94 (hòa giải tại cộng đồng) trong BLHS năm 2015, vì các biện pháp này khó có hiệu quả khi áp dụng trên thực tế do thiếu tính răn đe.

UBTVQH nhận thấy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội cần phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của họ, khi xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp khác, trong đó có miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, sau khi miễn trách nhiệm hình sự thì cần phải áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục nhất định (trừ các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của BLHS năm 2015) để bảo đảm tính răn đe, tạo điều kiện cho họ có cơ hội hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội và cũng nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến đề nghị quy định áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng cần phải bảo đảm quy trình là hòa giải thành trước khi ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự nhằm tránh việc sau khi ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự mà một bên lại không đồng ý hòa giải, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Ý kiến khác đề nghị, do đây là biện pháp áp dụng bắt buộc sau khi bị can, bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự, nên nhất thiết phải thực hiện sau khi có quyết định miễn trách nhiệm hình sự là phù hợp với trình tự, thủ tục áp dụng.

UBTVQH nhận thấy, hòa giải tại cộng đồng là một trong ba biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng bắt buộc do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện sau khi miễn trách nhiệm hình sự. Nếu quy định phải hòa giải thành trước khi miễn trách nhiệm hình sự thì trong một số trường hợp sẽ dẫn đến chồng chéo với quy định tại khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này và hòa giải tại cộng đồng không còn là biện pháp giám sát, giáo dục sau khi được miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng bị can, bị cáo và người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của những người này) đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng thì cơ quan tiến hành tố tụng xem xét miễn trách nhiệm hình sự.

II. PHẦN CÁC TỘI PHẠM

1. Về các nội dung có liên quan đến nhiều điều luật của BLHS năm 2015

1.1. Về cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể trong BLHS

Có ý kiến đề nghị trong trường hợp phạm tội có hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người thì cần quy định thống nhất cách tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người bị hại để không bỏ lọt tội phạm.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 có 03 cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể trong trường hợp phạm tội có hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người: (1) tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người; (2) tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này; (3) kết hợp vừa tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người, vừa tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người dẫn đến có trường hợp trùng lặp, ngược lại có trường hợp bỏ lọt tội phạm. dự thảo Luật do Chính phủ trình quy định có 02 cách tính: (1) tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng người; (2) tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người. Quy định này về cơ bản đã khắc phục được các hạn chế theo quy định của BLHS năm 2015. Tuy nhiên, do còn 07 điều luật (các điều 192, 193, 194, 296, 297, 301 và 302) quy định tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên là chưa thống nhất với đa số các điều luật khác tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên. Đồng thời, không công bằng với cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người cũng với tỷ lệ từ 31% trở lên tại Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138), Tội cướp tài sản (Điều 168) hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) và một số tội danh khác.

Để khắc phục bất cập này, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý 07 điều luật trên theo hướng tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người mà không tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể để bảo đảm phù hợp với các điều luật khác.

1.2. Về quy định yếu tố định tội, định khung hình phạt tổng thiệt hại trong trường hợp phạm tội gây nhiều loại hậu quả khác nhau

Có ý kiến đề nghị bổ sung hậu quả là tổng thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản trong trường hợp xảy ra hậu quả hỗn hợp để làm cơ sở định tội, định khung hình phạt tại các điều luật thuộc Mục 1 - Chương XXI về Các tội xâm phạm an toàn giao thông (từ Điều 260 đến Điều 284 của BLHS năm 2015) nhằm bao quát hết các trường hợp.

Ý kiến khác cho rằng, việc bổ sung hậu quả tổng các loại thiệt hại như ý kiến nêu trên là không cần thiết.

UBTVQH nhận thấy, Thông tư liên ngành số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của BLHS năm 1999 có xác định hậu quả hỗn hợp trong một số trường hợp làm căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với các tội về giao thông, nhưng cũng không bao quát được hết các tình huống xảy ra trên thực tế, nhất là trường hợp xảy ra cả 03 loại hậu quả: vừa chết người, vừa gây thương tích, vừa gây thiệt hại về tài sản. BLHS năm 2015 đã khắc phục một phần hạn chế nêu trên, theo đó quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong một khung hình phạt của các điều luật có liên quan là khá rộng, tạo điều kiện cho Tòa án quyết định hình phạt căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra... Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định về cách tính thiệt hại trong BLHS năm 2015.

1.3. Về các điều luật quy định nhắc lại cấu thành cơ bản

Nhiều ý kiến đề nghị bỏ các khoản quy định nhắc lại cấu thành cơ bản (cấu thành cơ bản thứ hai) tại 30 điều luật có quy định này (cấu thành cơ bản thứ nhất là khoản 1, cấu thành cơ bản thứ hai thường là khoản 4 hoặc khoản 5) để hạn chế việc hình sự hóa quá rộng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong kỹ thuật lập pháp. Ý kiến khác đề nghị giữ lại các quy định này.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 có 30 điều luật có quy định nhắc lại cấu thành cơ bản dẫn đến những bất cập sau đây:

Có 05 điều (các điều: 265, 279, 280, 283 và 309): cấu thành cơ bản thứ nhất của các tội này là cấu thành hình thức (chỉ cần thực hiện hành vi, chưa cần hậu quả xảy ra đã xử lý hình sự), nhưng ở khoản cấu thành cơ bản thứ hai lại quy định cấu thành vật chất (phải có hậu quả xảy ra) với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% mới bị xử lý hình sự. Cách quy định này là mâu thuẫn.

Có 07 điều (các điều: 270, 271, 274, 275, 276, 278 và 315): quy định ở cả hai cấu thành cơ bản với hành vi như nhau kèm theo các tình tiết “đã bị xử lý hành chính” hoặc “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị kết án về tội này mà còn vi phạm” dẫn đến việc có thể áp dụng cả 2 khoản với mức hình phạt khác nhau. Cách quy định này là trùng lặp, dẫn đến tùy tiện trong áp dụng.

Có 07 điều (các điều 260, 261, 265, 267, 272, 295 và 309): nếu có hậu quả thương tích thuộc cấu thành cơ bản thứ hai nhưng lại có một trong các tình tiết quy định ở các khoản tăng nặng (khoản 2, khoản 3) thì không biết sẽ bị xử lý theo khoản tăng nặng hay theo khoản cấu thành cơ bản thứ hai. Ví dụ, Điều 261 Tội cản trở giao thông đường bộ: nếu có hậu quả gây thương tích từ 31% đến 60% (thuộc khoản 4) nhưng lại có 1 trong những tình tiết thuộc cấu thành tăng nặng ở khoản 2 (ví dụ người phạm tội không có giấy phép lái xe hoặc gây tai nạn rồi bỏ trốn...) thì không rõ sẽ bị xử lý tăng nặng theo khoản 2 hay vẫn chỉ bị xử lý theo khoản 4 của Điều luật này.

Cả 30 điều luật (các điều: 235, 260, 261, 262, 263, 264, 265, 267, 268, 269, 270, 271, 272, 273, 274, 275, 276, 278, 279, 280, 283, 295, 298, 308, 309, 310, 312, 313, 315 và 360): cấu thành cơ bản thứ 2 quy định xử lý hình sự trường hợp phạm tội gây thương tích của nhiều người mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% là quá nặng trong khi công tác quản lý nhà nước và xử lý hành chính về các lĩnh vực này còn chưa nghiêm. Đồng thời, về kỹ thuật lập pháp không phù hợp với trật tự sắp xếp các khung hình phạt (từ nhẹ đến nặng) ngay chính trong 30 điều luật này và với hầu hết các điều luật trong BLHS.

Do đó, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bỏ các khoản quy định nhắc lại cấu thành cơ bản nhằm tránh chồng chéo, mâu thuẫn; bảo đảm thống nhất về kỹ thuật lập pháp, đồng thời hạn chế việc hình sự hóa quá rộng. Với cách sửa đổi này, những trường hợp chưa đến mức xử lý hình sự thì việc tăng cường quản lý nhà nước, xử lý hành chính nghiêm cũng đáp ứng tốt yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1.4. Về quy định xác định hàm lượng chất ma túy để quy ra khối lượng hoặc thể tích (các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị, chỉ xác định hàm lượng để quy ra khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong 04 trường hợp: chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; xái thuốc phiện; chất ma túy trong thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

Ý kiến khác cho rằng vấn đề này chỉ vướng mắc về quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thực thi pháp luật, do đó đề nghị giữ như quy định của BLHS năm 2015 và đề nghị các cơ quan tư pháp thống nhất, trường hợp không thống nhất được thì trình UBTVQH giải thích.

UBTVQH nhận thấy, tại Kỳ họp thứ hai, Tổng thư ký Quốc hội đã gửi phiếu thăm dò ý kiến các vị ĐBQH về việc bổ sung quy định xác định hàm lượng chất ma túy để quy ra khối lượng hoặc thể tích chất ma túy làm cơ sở xử lý hình sự. Kết quả có 290/397 ý kiến tán thành với việc bổ sung quy định xác định hàm lượng chất ma túy đối với 04 trường hợp gồm: (1) Chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; (2) Chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; (3) Xái thuốc phiện; (4) Chất ma túy trong thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần4. Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy cho thấy, việc xác định hàm lượng chất ma túy trong 04 trường hợp trên là cần thiết do hàm lượng chất ma túy thuộc các trường hợp này rất thấp, nếu không giám định sẽ không bảo đảm tính khách quan và làm tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Do đó, dự thảo Luật đã được chỉnh lý bổ sung thêm 01 khoản tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 để quy định 04 trường hợp bắt buộc phải giám định chất ma túy.

1.5. Về việc bổ sung quy định “lá, rễ, thân, cành, hoa, quả hoặc bộ phận khác của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định” vào các điều 249, 250, 251 và 252 của BLHS năm 2015

Nhiều ý kiến tán thành với việc bổ sung chất ma túy, cây khác có chứa chất ma túy vào dự thảo Luật và giao Chính phủ ban hành Danh mục các chất ma túy, cây, lá, hoa, quả... có chứa chất ma túy để đảm bảo tính kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Có ý kiến đề nghị chỉ quy định những cây, lá, hoa, quả... có chứa chất ma túy mà chúng ta đã biết vào dự thảo Luật.

UBTVQH nhận thấy, trong thời gian qua đã xuất hiện một số loại cây, lá có chứa chất ma túy mới được mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng tại Việt Nam gây tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Để bảo đảm tính kịp thời trong phòng, chống tội phạm thì cần thiết phải bổ sung quy định có tính dự liệu vào các điều 249, 250, 251 và 252. Cách quy định này cũng đã được thể hiện tại Điều 247 của BLHS năm 2015 (có kế thừa BLHS năm 1999). Do đó, dự thảo Luật đã được chỉnh lý, bổ sung quy định “lá, rễ, thân, cành, hoa, quả hoặc bộ phận khác của cây khác có chứa chất ma túy thuộc danh mục do Chính phủ ban hành” vào các điều luật trên; bổ sung cụm từ “thuộc danh mục do Chính phủ ban hành” vào sau cụm từ “cây khác có chứa chất ma túytại khoản 1 Điều 247 để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Luật phòng, chống ma túy và tránh việc xử lý hình sự quá rộng; đồng thời, dự thảo Luật cũng đã sửa đổi tên gọi của một số loại ma túy như Heroine, Cocaine để bảo đảm phù hợp với các luật chuyên ngành.

1.6. Về quy định số lượng, khối lượng, thể tích, giá trị đối với hàng cấm làm căn cứ định tội, định khung hình phạt (các điều 190, 191, 232, 234 và 244 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng, đối với hàng phạm pháp do Nhà nước không quy định giá nên không có căn cứ cho các cơ quan chức năng định giá để xử lý hình sự.

Ý kiến khác cho rằng, việc quy định số lượng, khối lượng, thể tích chung cho các loại hàng cấm là rất khó thực hiện do tính chất của từng loại hàng cấm khác nhau nên cần quy định theo giá trị. Đồng thời, quy định bắt buộc các cơ quan chức năng phải tiến hành định giá để bảo đảm yêu cầu giải quyết các vụ án hình sự.

UBTVQH nhận thấy, dự thảo Luật do Chính phủ trình đã xử lý theo hướng: đối với một số loại hàng cấm đã xác định được thì quy định tính theo số lượng hoặc khối lượng trên cơ sở luật hóa quy định tại các nghị định, thông tư mà thực tiễn kiểm nghiệm là phù hợp. Những loại hàng cấm khác thì quy định tính theo giá trị để bảo đảm bao quát hết được các loại hàng cấm. Quy định này là phù hợp và thống nhất với cách quy định về danh mục hàng cấm trong các luật như Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật hóa chất, Luật an toàn thực phẩm, Luật dược, Luật thú y Luật phòng, chống ma túy... đồng thời việc xác định hàng hóa nào bị cấm cũng có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong từng thời kỳ.

Để bảo đảm thi hành quy định nêu trên, UBTVQH kiến nghị trong Nghị quyết thi hành Luật này, Quốc hội giao Chính phủ ban hành các văn bản liên quan đến định giá loại hàng hóa này để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.

1.7. Về tình tiết định tội “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” (các điều 172, 173, 174 và 178 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ quy định “tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại vì khó chứng minh tội phạm.

Ý kiến khác đề nghị giữ như quy định của BLHS năm 2015.

UBTVQH nhận thấy, tình tiếttài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hạilần đầu tiên được quy định trong BLHS năm 2015. Tuy nhiên, khi chứng minh các tình tiết này thì cơ quan tiến hành tố tụng phải phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ quan của người bị hại, dẫn đến khó khăn trong chứng minh và xử lý tội phạm. Do đó, UBTVQH xin tiếp thu ý kiến ĐBQH về việc không quy định “tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” mà chỉ giữ lại quy định “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ” tại các điều 172, 173, 174 và 178 trong dự thảo Luật. Trường hợp tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng bị xâm phạm “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” thì vẫn có thể bị xử lý theo quy định tại khoản 1 các điều này.

2. Về các điều luật cụ thể khác

2.1. Về một số tội xâm phạm an ninh quốc gia (các điều 109, 112 và 113 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ quy định về chuẩn bị phạm tội đối với Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (khoản 3 Điều 109) vì tội này quy định hành vi phạm tội được hoàn thành từ rất sớm, ngay ở giai đoạn chuẩn bị. Ý kiến khác đề nghị giữ như quy định của BLHS năm 2015, vì các tội danh này vẫn có giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

UBTVQH nhận thấy, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mặc dù có thời điểm hoàn thành tội phạm từ rất sớm (ngay từ khi có hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), nhưng vẫn có giai đoạn chuẩn bị phạm tội như tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tài liệu có nội dung phản động nhưng chưa tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân nên vẫn cần thiết phải xử lý hình sự. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến đề nghị lấy lại Điều 83 (Tội hoạt động phỉ) của BLHS năm 1999 để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

UBTVQH nhận thấy, mặc dù Tội hoạt động phỉ trong BLHS năm 1999 đã được bãi bỏ, nhưng thực chất các hành vi trong tội hoạt động phỉ đã được điều chỉnh tại các điều luật khác như Điều 112 (Tội bạo loạn) và Điều 113 của BLHS năm 2015 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân). Theo đó, người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển, vùng hiểm yếu khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bạo loạn; người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà thực hiện hành vi giết người, cướp phá tài sản sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân. Quy định như trên thực chất không có sự thay đổi về chính sách hình sự, phù hợp trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại Việt Nam. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

2.2. Về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng, Điều 134 của BLHS năm 2015 quy định hậu quả thương tích vào vùng mặt với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và làm chết 02 người trong cùng một khung hình phạt là không phù hợp. Đồng thời, quy định khung hình phạt áp dụng với trường hợp dẫn đến chết người bằng với Tội giết người (khoản 2 Điều 123) là không công bằng.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, khoản 3, khoản 4 Điều 134 dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng tách thành 03 khoản (các khoản 3, 4 và 5) để bảo đảm sự phân hóa, sắp xếp lại trường hợp gây thương tích vào vùng mặt với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên cùng với khung hình phạt có hậu quả làm chết 01 người và điều chỉnh lại các mức hình phạt cho phù hợp hơn.

Có ý kiến đề nghị sửa đổi quy định “phụ nữ mà biết là có thai” thành “phụ nữ có thai” vì trong nhiều trường hợp, việc chứng minh tình tiếtmà biết là có thai” phải dựa vào nhận thức chủ quan của người phạm tội. Ý kiến khác đề nghị giữ quy định này để bảo đảm tính minh bạch.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 2015 sử dụng hai cách quy định về tình tiết phụ nữ có thai là: “phụ nữ có thai” và “phụ nữ mà biết là có thai”.

Tình tiết “phụ nữ có thai” được quy định tại các điều 36, 40, 51, 52 và 67 của Phần những quy định chung nhằm mục đích thực hiện chính sách giảm nhẹ, bảo vệ đối với người phạm tội là phụ nữ có thai. Do đó, người phạm tội đã là phụ nữ mà có thai thì sẽ được hưởng những chính sách này. Việc xác định phụ nữ có thai hay không thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tình tiết “phụ nữ mà biết là có thai” được quy định tại khung tăng nặng của 23 điều luật trong Phần các tội phạm. Theo đó, chỉ xử lý theo các khung này nếu chứng minh được nhận thức chủ quan của người phạm tội biết rõ người bị hại là phụ nữ có thai nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Nếu người phạm tội không biết người phụ nữ đó đang có thai thì không bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung mà chỉ bị áp dụng tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.

Cách quy định này trong BLHS năm 2015 là phù hợp, vừa bảo đảm chính sách nhân đạo đối với phụ nữ phạm tội, vừa bảo đảm công bằng trong xử lý tội phạm, do đó đề nghị Quốc hội cho giữ quy định này của BLHS năm 2015.

Có ý kiến đề nghị cần bổ sung đối tượng người bị hại là học sinh là tình tiết định tội trong trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% vào khoản 1 Điều 134 để xử lý được trường hợp giáo viên đánh học sinh.

UBTVQH nhận thấy, khoản 1 Điều 134 điều chỉnh mọi đối tượng phạm tội, không chỉ riêng trường hợp giáo viên phạm tội đối với học sinh. Đồng thời BLHS năm 2015 đã quy định bao quát hết các trường hợp học sinh là người dưới 16 tuổi hoặc người không có khả năng tự vệ thì sẽ áp dụng điểm e khoản 1 Điều này. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến cho rằng, quy định tại điểm d khoản 1 “phạm tội 02 lần trở lên” và điểm đ khoản 1 Điều này “phạm tội đối với 02 người trở lên” là không phù hợp vì các trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% không phải là tội phạm nên không được tính là phạm tội 02 lần trở lên hoặc đối với 02 người trở lên.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý trên cơ sở luật hóa quy định tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 13/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 02 lần trở lên mà mỗi lần tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của người này từ 11% đến 30% hoặc đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người dưới 11% nhưng tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 11% đến 30% mới thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

Có ý kiến cho rằng, khoản 5 Điều 134 trong dự thảo Luật do Chính phủ trình quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội không phù hợp với khái niệm chuẩn bị phạm tội được quy định tại Điều 14 của BLHS năm 2015. Do đó, đề nghị bỏ khoản 5 Điều này trong dự thảo Luật do Chính phủ trình.

UBTVQH nhận thấy, chính sách đối với hành vi chuẩn bị phạm tội là xử lý nhẹ hơn so với hành vi phạm tội đã được thực hiện. Điều 134 là tội danh có cấu thành vật chất, chỉ xử lý hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến o khoản 1 Điều này. Trong khi đó, nội dung của khoản 5 như trong dự thảo Luật do Chính phủ trình sẽ dẫn đến có trường hợp người đã thực hiện hành vi gây thương tích (dưới 11%) có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng người chuẩn bị phạm tội lại phải chịu trách nhiệm hình sự là không phù hợp. Tuy nhiên, việc chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội là hung khí nguy hiểm, a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác để chuẩn bị phạm tội là những hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội, do đó, cần được xử lý sớm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, tránh trường hợp hậu quả xảy ra mới xử lý về hình sự. UBTVQH đề nghị Quốc hội chỉnh lý như sau:

“6. Người nào chuẩn bị hung khí nguy hiểm, a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

2.3. Về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 của BLHS năm 2015)

- Nhiều ý kiến tán thành với việc quy định “bỏ trốn” là tình tiết định tội tại khoản 1 Điều 175 (như khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999) để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay. Ý kiến khác đề nghị không quy định dấu hiệu “bỏ trốn” trong cấu thành tội phạm của tội danh này vì không phù hợp với quy định của Luật cư trú.

Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “bỏ trốn” bằng cụm từ “trốn tránh” để bảo đảm tính bao quát hơn.

UBTVQH nhận thấy, BLHS năm 1999 quy định “bỏ trốn” là tình tiết định tội của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhằm bảo đảm xử lý được các trường hợp vay, mượn, thuê … tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 cho thấy quá trình áp dụng điều luật này không gặp vướng mắc. Tuy nhiên, Điều 175 của BLHS năm 2015 lại bỏ tình tiết này nên đã tạo ra khoảng trống, dẫn đến khó khăn trong xử lý tội phạm. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 175 đã được chỉnh lý, bổ sung dấu hiệu “bỏ trốn” là một trong các tình tiết định tội của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Có ý kiến cho rằng, quy định dấu hiệu “đến hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” tại Điều 175 là không hợp lý, vì khó phân định được ranh giới giữa hình sự và dân sự.

UBTVQH nhận thấy, việc quy định tình tiết đến hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” trong BLHS năm 2015 là phù hợp, đáp ứng yêu cầu xử lý các trường hợp mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng vẫn chây ỳ cố tình không trả để chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định trong BLHS năm 2015.

2.4. Về Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung hình phạt lao động công ích và giảm hình phạt tiền từ 10 triệu đồng xuống 05 triệu đồng tại khoản 1 Điều này cho phù hợp với điều kiện của đồng bào dân tộc ít người.

UBTVQH nhận thấy, Điều 183 của BLHS năm 2015 đã quy định áp dụng hình phạt tiền hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ. Tòa án khi lựa chọn áp dụng hình phạt nào còn phải căn cứ vào quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật này, theo đó khi tuyên hình phạt tiền thì phải “xét đến tình hình tài sản của người phạm tội”, trường hợp người phạm tội không có tài sản hoặc tài sản không có khả năng thi hành án thì sẽ tuyên hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc bổ sung hình phạt lao động công ích vào tội danh này không phù hợpBLHS năm 2015 không có quy định về loại hình phạt này. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

2.5. Về Tội buôn lậu (Điều 188 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “quy định tại khoản 2 Điều này” tại điểm b khoản 6 Điều 188 bằng cách liệt kê các điểm ở khoản 2 để bảo đảm loại trừ trường hợp “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” hoặc “lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức” để phạm tội, vì pháp nhân thương mại không thể có những dấu hiệu này. Ý kiến khác đề nghị giữ cách viện dẫn nêu trên như quy định của BLHS năm 2015.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, khoản 6 Điều 188 dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng loại trừ điểm e và điểm g khoản 2 Điều này để bảo đảm tính thống nhất với các điều luật khác đã được sửa đổi.

Có ý kiến đề nghị rà soát lại những trường hợp nào là hàng cấm thì cần được loại trừ trong Điều 188, vì đối với hành vi buôn bán hàng cấm nếu qua biên giới là tình tiết tăng nặng của các tội danh đó.

UBTVQH nhận thấy, việc quy định có tính chất loại trừ các tội danh khác tại Điều 188 Tội buôn lậu và Điều 189 Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới là không cần thiết. Trường hợp phạm tội buôn bán, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại thì phải xử lý về hành vi buôn bán, vận chuyển hàng cấm với tình tiết định khung tăng nặng là “buôn bán, vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại”. Do đó, Điều 188 và Điều 189 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng không viện dẫn các trường hợp loại trừ tội danh khác để bảo đảm tính thống nhất của BLHS.

2.6. Về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 của BLHS năm 2015) và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị phân biệt chính sách hình sự giữa hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, cấm sử dụng, cấm lưu hành với hàng hóa chưa được phép kinh doanh, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam do tính chất của các loại hàng hóa này trong nhiều trường hợp là khác nhau.

UBTVQH nhận thấy, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam (khoản 6 Điều 3). Tuy nhiên, tính chất của từng loại hàng hóa có sự khác nhau do hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam có thể là các loại đang xin phép lưu hành hoặc đang thử nghiệm tại Việt Nam. Do đó, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng: đối với hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam thì ngoài điều kiện về giá trị hàng hóa, thu lợi bất chính, còn phải thỏa mãn điều kiện đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về một số tội cùng tính chất, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới xử lý hình sự.

Có ý kiến đề nghị không quy định thuốc lá điếu nhập lậu vào Điều 190 và Điều 191 của BLHS năm 2015 vì thực tế thuốc lá điếu có nguồn gốc nước ngoài trong một số trường hợp vẫn cho phép bán tại Việt Nam; đồng thời Luật đầu tư mới được sửa đổi quy định đây là hàng hóa kinh doanh có điều kiện.

UBTVQH nhận thấy, mặc dù trong một số trường hợp Nhà nước cho phép buôn bán trong lãnh thổ Việt Nam thuốc lá có nguồn gốc từ nước ngoài như tại các cửa hàng miễn thuế nhưng đây không phải là thuốc lá nhập lậu. Theo quy định của Luật phòng, chống tác hại thuốc lá thì hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là hành vi bị nghiêm cấm; đồng thời Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 184/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ) quy định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm. Do đó, để bảo đảm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu đang diễn ra phổ biến hiện nay, đề nghị Quốc hội cho bổ sung thuốc lá điếu nhập lậu vào Điều 190 và Điều 191 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý.

2.7. Về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị cần xác định ưu tiên cách tính theo giá bán, giá niêm yết và giá ghi trong hóa đơn trong các điều luật này cho phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật trên nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.

UBTVQH nhận thấy, theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì khi xác định giá trị của hàng giả cần căn cứ trên giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng mà không căn cứ trên giá bán, giá ghi trong hóa đơn hay giá niêm yết của hàng giả. Do đó, các điều 192, 193, 194 và 195 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng không quy định giá trị của hàng giả căn cứ vào giá bán, giá niêm yết và giá ghi trong hóa đơn mà chỉ căn cứ vào giá trị của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng để bảo đảm phù hợp với pháp luật hiện hành.

2.8. Về Tội trốn thuế (Điều 200 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng các điểm e, g, h khoản 1 Điều này quy định có sự trùng lặp với Tội buôn lậu (Điều 188 của BLHS năm 2015).

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, các điểm e, g và h khoản 1 Điều 200 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng loại trừ các trường hợp nếu hành vi phạm tội buôn lậu thì xử lý theo Điều 188 về Tội buôn lậu.

2.9. Về Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Điều 206 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị đổi tên điều luật thành “Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng” để bảo đảm bao quát và xử lý được cả trường hợp tổ chức, cá nhân khác ngoài tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, tên Điều 206 của dự thảo Luật đã được chỉnh lý thành Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng.

Có ý kiến đề nghị bổ sung các hành vi kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối trái phép vào Điều 206 vì các hành vi này ảnh hưởng lớn đến hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng cũng như ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.

UBTVQH nhận thấy, khoản 17 Điều 4 Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ: “Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng”, trong khi đó điểm g khoản 1 Điều 206 của BLHS năm 2015 quy định “…tiến hành các hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”. Như vậy, thực chất các hành vi kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối nếu chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép là hành vi vi phạm pháp luật. Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã chỉnh lý rõ hơn quy định tại điểm g khoản 1 Điều 206 theo hướng tách hành vi kinh doanh vàng trái phép, kinh doanh ngoại hối trái phép để quy định cụ thể riêng mà không để chung trong hành vi tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép để bảo đảm rõ ràng và minh bạch.

2.10. Về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi kinh doanh đa cấp trái phép vào Điều 217 để bảo đảm xử lý kịp thời, tránh tình trạng xảy ra lừa đảo trong kinh doanh đa cấp mới có thể xử lý được hình sự.

UBTVQH cho rằng, hành vi kinh doanh đa cấp trái phép hiện nay đang diễn biến phức tạp, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến người dân mà còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh khác. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng bổ sung hành vi kinh doanh đa cấp trái phép vào Điều 217 để bảo đảm có căn cứ xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp.

2.11. Về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229 của BLHS năm 2015) và Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 233 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng hành vi giao, thu hồi, cho phép chuyển mục đích sử dụng trái pháp luật đối với đất rừng được quy định tại Điều 229 là chồng chéo với hành vi giao, thu hồi, cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật quy định tại Điều 233 của BLHS năm 2015.

UBTVQH nhận thấy, Điều 233 của BLHS năm 2015 điều chỉnh đối với hành vi vi phạm quy định về quản lý rừng, bao gồm cả diện tích rừng và đất rừng; Điều 229 điều chỉnh cả đối với hành vi vi phạm quy định về quản lý đất rừng. Mặc dù dự thảo Luật do Chính phủ trình đã loại bỏ đất trồng rừng tại Điều 233 của BLHS năm 2015, tuy nhiên, vẫn có sự chồng chéo về đối tượng điều chỉnh là đất rừng trong trường hợp giao, thu hồi, cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng (bao gồm cả đất trồng rừng). Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý, viện dẫn loại trừ Điều 233 trong Điều 229, theo đó, các trường hợp phạm tội ở Điều 233 thì sẽ không xử lý theo quy định của Điều 229.

Có ý kiến đề nghị cần nâng mức diện tích rừng tại Điều 233 vì chủ thể của tội phạm này là cán bộ, công chức.

UBTVQH nhận thấy, với tình trạng vi phạm nghiêm trọng trong quản lý rừng như hiện nay và Chính phủ cũng đã có quyết định đóng cửa rừng tự nhiên thì việc quy định mức định lượng diện tích rừng như tại Điều 233 của BLHS năm 2015 là phù hợp và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ mức định lượng như quy định tại Điều 233 của BLHS năm 2015.

2.12. Về Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 của BLHS năm 2015)

Nhiều ý kiến đề nghị, do tình hình vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đang diễn ra hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều vùng dân cư thì cần phải hạ các mức định lượng xả thải cũng như số lần vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Có ý kiến đề nghị sửa đổi các quy định có liên quan đến số lần vượt quy chuẩn quốc gia về chất phóng xạ cho phù hợp với thuật ngữ khoa học và mức độ an toàn chất phóng xạ.

UBTVQH nhận thấy, quan điểm nhất quán của Nhà nước ta là không chấp nhận đánh đổi môi trường vì lợi ích trước mắt. Qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, hầu hết các quốc gia không quy định định lượng đối với tội gây ô nhiễm môi trường, mà trong từng trường hợp cụ thể trên cơ sở đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả thực tế để xử lý hình sự. Đồng thời, theo Báo cáo số 95/BCA-V19 ngày 18/01/2017 của Bộ Công an thì tình trạng “gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất công nghiệp đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, trên diện rộng, trong hầu hết các loại hình sản xuất”; nếu quy định như Điều 235 của BLHS năm 2015 về mức định lượng xả thải ra môi trường và tỷ lệ vượt thông số môi trường nguy hại thì nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận thời gian qua cũng không thể xử lý hình sự được. Vì vậy, để bảo đảm người dân được sống trong môi trường an toàn và bảo đảm tính khả thi của các quy định trong điều luật, nghiêm trị các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực môi trường, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng đưa khoản 3 là khoản giảm nhẹ lên làm cấu thành cơ bản và bỏ việc gắn với yếu tố “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm”, các khoản khác chỉ thay đổi vị trí, thông số về môi trường mà không thay đổi khung hình phạt. Cụ thể là điều chỉnh lại thông số theo hướng giảm số lần (không điều chỉnh khối lượng, trọng lượng) đối với hành vi xả thải ra môi trường chất thải rắn, nước thải có thông số môi trường nguy hại, nước có chứa chất phóng xạ, khí thải có chứa hàm lượng bụi hoặc khí… vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất phóng xạ với số lần cụ thể hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới xử lý hình sự.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng đây là chính sách hình sự đã được Quốc hội khóa XIII cân nhắc kỹ nên đề nghị không điều chỉnh lại mức định lượng về thông số gây ô nhiễm môi trường để xử lý hình sự.

Do đó, UBTVQH xin ý kiến ĐBQH về 02 phương án như trong dự thảo Luật đã được chỉnh lý:

- Đối với hành vi xả thải ra môi trường:

Phương án 1: Chỉnh lý theo hướng nếu xả thải ra môi trường từ 1.000 m3 đến 5.000 m3/ ngày nước thải có thông số nguy hại vượt quá quy chuẩn quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 500 m3 đến dưới 1.000 m3 nước thải có thông số nguy hại vượt quá quy chuẩn quốc gia về môi trường từ 05 lần trở lên thì bị xử lý về hình sự (điểm c khoản 3 Điều 235 BLHS năm 2015 quy định từ 1.000 m3 đến dưới 10.000 m3 nước thải có thông số nguy hại vượt quá quy chuẩn quốc gia về môi trường từ 05 lần đến dưới 10 lần nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì xử lý hình sự);

Phương án 2: Giữ như quy định của BLHS năm 2015 (chỉ chuyển khoản 3 lên khoản 1).

- Đối với hành vi xả thải ra môi trường khí thải:

Phương án 1: Dự thảo Luật chỉnh lý theo hướng nếu xả thải ra môi trường từ 150.000 m3 đến dưới 300.000 m3/giờ khí thải có chứa hàm lượng bụi hoặc khí vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần trở lên thì xử lý hình sự (điểm e khoản 3 Điều 235 BLHS năm 2015 quy định từ 150.000 m3 đến dưới 300.000 m3 bụi, khí thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia từ 10 lần trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì xử lý hình sự).

Phương án 2: Giữ như quy định của BLHS năm 2015 (chỉ chuyển khoản 3 lên khoản 1).

Đối với hành vi xả thải ra môi trường nước thải có độ pH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14, quy định này là trùng với nước thải có thông số nguy hại vượt quá quy chuẩn quốc gia về môi trường đã được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 235 trong dự thảo Luật nên cần phải lược bỏ để tránh chùng chéo.

Các quy định khác được giữ như BLHS năm 2015.

2.13. Về Tội hủy hoại rừng (Điều 243 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ điểm đ khoản 1, điểm h khoản 2 và điểm đ khoản 3 của Điều 243 của BLHS năm 2015 vì cho rằng, đối với hành vi đốt, phá rừng thì các loại thực vật rừng có thể không còn tồn tại nên không có cơ sở định giá để xử lý. Tương tự như quy định trên thì cần phải chỉnh lý lại quy định đối với trường hợp hủy hoại rừng có các loài thực vật thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo hướng không quy định số lượng hay khối lượng để bảo đảm có cơ sở trong xử lý hình sự.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật được chỉnh lý bỏ điểm đ khoản 1, điểm h khoản 2 và điểm đ khoản 3 của Điều 243, đồng thời chỉnh lý lại điểm e khoản 1 theo hướng đối với trường hợp đốt, phá rừng dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và có các loài thực vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm thì xử lý hình sự mà không cần quy định mức giá trị tối thiểu; quy định này cũng phù hợp với quy định của BLHS năm 1999.

2.14. Về Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 283 của BLHS năm 2015) và Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 284 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bỏ hậu quả về gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, làm chết người hoặc gây thiệt hại về tài sản tại Điều 283 và Điều 284 của BLHS năm 2015 để tránh chồng chéo với Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272)Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 277).

UBTVQH nhận thấy, quy định tại Điều 283 và Điều 284 của BLHS năm 2015 là nhằm điều chỉnh hành vi vi phạm các quy định về hàng không và hàng hải khi điều khiển tàu bay hoặc phương tiện hàng hải ra hoặc vào lãnh thổ Việt Nam. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì nếu các hành vi trên gây hậu quả nghiêm trọng là tình tiết định khung tăng nặng. BLHS năm 2015 đã quy định hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, làm chết người hoặc gây thiệt hại về tài sản vào các điều luật trên là không phù hợp, dẫn đến chồng chéo với Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272) Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 277). Do đó, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng quy định chung về hậu quả mà không định lượng chi tiết. Cách quy định này hiện nay vẫn được thể hiện ở một số điều của BLHS năm 2015 (ví dụ Điều 304, một số điều thuộc Chương XXV của BLHS).

2.15. Về Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 292 của BLHS năm 2015)

Nhiều ý kiến tán thành với việc bỏ tội danh này trong BLHS. Ý kiến khác

đề nghị vẫn giữ quy định tại Điều 292 nhưng điều chỉnh lại theo hướng bỏ quy định về doanh thu, bỏ điểm e khoản 1 và thay tình tiết “không có giấy phép hoặc không đúng nội dung được cấp phép” bằng “chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

Có ý kiến cho rằng, hiện nay việc cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông trong một số trường hợp như quy định tại Điều 292 đang diễn biến phức tạp, nhiều trường hợp lợi dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để kinh doanh vàng trái phép, kinh doanh đa cấp trái phép... thì cần phải có quy định để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, do khách thể bảo vệ có sự khác nhau nên cần thiết phải quy định ở các chương tương ứng cho phù hợp.

UBTVQH nhận thấy, việc bỏ Điều 292 như ý kiến của đa số ĐBQH và với những lý do như Chính phủ trình là phù hợp. Về băn khoăn của một số ĐBQH về hành vi vi phạm pháp luật ở mức nghiêm trọng trong các hoạt động kinh doanh vàng, kinh doanh đa cấp… thì đã có thể xử lý hình sự ở các tội danh khác (như hành vi kinh doanh vàng thì xử lý về Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng tại Điều 206; hành vi kinh doanh đa cấp trái phép thì xử lý về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh tại Điều 217; nếu lợi dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản thì xử lý về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Điều 290; đồng thời các hành vi nêu trên nếu có đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo thì sẽ bị xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174). Do đó, đề nghị Quốc hội cho bỏ Điều 292.

2.16. Về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung vũ khí hạng nặng vào Điều 304 vì cho rằng vũ khí quân dụng chưa bao gồm vũ khí hạng nặng.

UBTVQH thấy rằng, Quốc hội đang cho ý kiến và tại Kỳ họp thứ 3 sẽ xem xét, thông qua Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Trên cơ sở quyết định của Quốc hội về phạm vi điều chỉnh của Luật này, UBTVQH sẽ chỉ đạo UBTP và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, chỉnh lý Điều 304 của BLHS cho phù hợp,

Ý kiến khác đề nghị bên cạnh việc bổ sung tình tiếtvật phạm pháp có số lượng lớn” thì cũng cần thiết phải bổ sung tình tiếtvật phạm pháp có giá trị lớn” để bảo đảm bao quát được hết các trường hợp, nhất là phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc vũ khí hạng nặng trong nhiều trường hợp tuy số lượng ít nhưng lại có giá trị lớn.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng bổ sung các quy định về vật phạm pháp “giá trị lớn, giá trị rất lớn hoặc giá trị đặc biệt lớn vào các điểm tương ứng để bảo đảm tính bao quát và có căn cứ xử lý hình sự.

2.17. Về Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 317 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng, cần bổ sung định lượng vào điểm a và điểm b khoản 1 Điều 317 nhằm tránh việc xử lý hình sự quá rộng. Ý kiến khác đề nghị không sửa Điều này để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đang xảy ra phổ biến hiện nay.

UBTVQH nhận thấy, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 317 của BLHS năm 2015 quy định có cấu thành hình thức (chỉ cần có hành vi, chưa cần có hậu quả trên thực tế) đã xử lý hình sự ngay là quá nặng, có thể dẫn tới xử lý tràn lan, nhất là đối với nông dân, cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ. Thời gian qua dư luận xã hội bức xúc với thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, để xảy ra thực trạng này có nguyên nhân không nhỏ từ công tác quản lý nhà nước và xử phạt hành chính chưa nghiêm, nếu làm tốt hơn nữa công tác quản lý nhà nước và tăng cường hiệu quả xử lý hành chính thì sẽ góp phần hạn chế đáng kể tình trạng này. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 317 trong dự thảo Luật đã được chỉnh lý lại theo hướng phân hóa rõ hơn các trường hợp phạm tội, bổ sung tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ xử lý hình sự. Đồng thời, bổ sung thêm các yếu tố khác như giá trị hàng hóa hoặc thu lợi bất chính hoặc gây tổn hại cho sức khỏe để phù hợp với từng hành vi phạm tội cụ thể, bảo đảm bao quát hết các tình huống có thể xảy ra và có căn cứ xử lý hình sự ngay nếu hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng. Quy định này một mặt đáp ứng yêu cầu xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, mặt khác vẫn bảo đảm sự phân hóa trong xử lý hình sự, hạn chế việc xử lý hình sự quá rộng, quá mức cần thiết. Đối với một số trường hợp thì chỉ xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn còn vi phạm.

2.18. Về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị sửa đổi điểm a, khoản 1 Điều này theo hướng bỏ quy định “tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình...” do có thể dẫn đến khó khăn trong việc xử lý hình sự đối với tội này.

Có ý kiến cho rằng, hiện nay việc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc không chỉ thực hiện bằng cách để cho người khác trực tiếp đánh bạc với nhau mà còn sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử cho người khác đánh bạc. Do đó, đề nghị bổ sung các quy định này trong dự thảo Luật.

Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng đối với hành vi tổ chức đánh bạc thì không quy định phải sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình mà ở bất kỳ đâu, nếu tổ chức cho 10 người trở lên hoặc 02 chiếu bạc trở lên với số tiền nhất định là bị xử lý hình sự. Đối với hành vi gá bạc thì phải quy định sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý hoặc sở hữu của mình cho người khác đánh bạc để thu một khoản tiền nhất định là phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Đồng thời, dự thảo Luật cũng đã bổ sung quy định “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” là tình tiết định khung tăng nặng. Do đó, tổ chức cho người khác đánh bạc hoặc gá bạc trên mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử cũng đã được điều chỉnh tại Điều 322.

2.19. Về Tội vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản (Điều 344 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến cho rằng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 344 trong dự thảo Luật do Chính phủ trình về cơ sở in bắt buộc phải có đăng ký xuất bản là không phù hợp vì Luật xuất bản không quy định cơ sở in bắt buộc phải có xác nhận đăng ký xuất bản.

UBTVQH nhận thấy, theo quy định tại Điều 22 của Luật xuất bản thì trước khi xuất bản, nhà xuất bản phải đăng ký xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến đề nghị, đối với trường hợp in lậu thì quy định số lượng 2.000 bản xuất bản phẩm là quá lớn, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định để xử lý các cơ sở in trái phép và người thuê in trái phép.

UBTVQH nhận thấy, việc xác định số lượng xuất bản phẩm in lậu hay hậu quả của hành vi phạm tội đã được Quốc hội khóa XIII xem xét kỹ. Đồng thời, Luật xuất bản quy định nghiêm cấm hành vi in lậu, in giả, in nối bản trái phép xuất bản phẩm (điểm c khoản 2 Điều 10). Dự thảo Luật do Chính phủ trình quy định xử lý hình sự trường hợp in tổng số lượng 2.000 bản xuất bản phẩm trở lên là đã mở rộng xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi này so với BLHS năm 2015 (quy định in 2.000 bản trở lên đối với từng xuất bản phẩm mới bị xử lý hình sự)). Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

Có ý kiến đề nghị, bỏ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này: “Xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm có nội dung vi phạm điều cấm của Luật xuất bản với số lượng từ 500 bản đến dưới 1.000 bản” vì chồng chéo với nhiều điều luật khác trong Bộ luật này.

UBTVQH nhận thấy, theo quy định tại Điều 10 của Luật xuất bản về các hành vi bị nghiêm cấm thì quy định tại điểm d khoản 1 Điều 344 BLHS năm 2015 là chồng chéo với một số tội danh khác như Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117) nếu xuất bản phẩm có nội dung tuyên truyền, chống phá Nhà nước Việt Nam; Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326) nếu xuất bản phẩm có nội dung đồi trụy; Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu, bí mật nhà nước (Điều 337); Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước (Điều 338) nếu xuất bản phẩm có nội dung liên quan đến bí mật nhà nước.... Do đó, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bỏ điểm d khoản 1 và điểm b khoản 2 để tránh chồng chéo với các điều luật khác trong Bộ luật này; đồng thời chỉnh lý lại các điểm của khoản 1 và khoản 2 cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

2.20. Về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 377 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị bổ sung các điều kiện khác vào điểm đ khoản 1 Điều 377 để tránh việc hình sự hóa quá rộng. Ý kiến khác tán thành với quy định này nhằm bảo đảm quyền con người đã được Hiến pháp năm 2013 quy định.

UBTVQH nhận thấy, việc quy định về trường hợp không kịp thời ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn này dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn mà đã xử lý hình sự ngay là quá nặng. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 377 trong dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng trường hợp người tiến hành tố tụng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này nhưng lại vi phạm thì mới xử lý hình sự.

2.21. Về Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối (Điều 382 của BLHS năm 2015)

Có ý kiến đề nghị không quy định chủ thể là người bào chữa (trong đó có luật sư) phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối, vì người bào chữa không có nghĩa vụ khai báo và với trách nhiệm gỡ tội, người bào chữa có quyền đưa ra những yêu cầu, tài liệu mà họ cho là có thể gỡ tội cho thân chủ mình thì họ không phải chịu trách nhiệm về hành vi cung cấp tài liệu sai sự thật.

UBTVQH nhận thấy, khoản 1 Điều 382 của BLHS năm 2015 quy định chỉ xử lý hình sự trường hợp người bào chữa cung cấp tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật; theo quy định d khoản 2 Điều 73 của Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có nghĩa vụ “tôn trọng sự thật, không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Mặt khác, Luật luật sư quy định nguyên tắc hành nghề luật sư “Tôn trọng sự thật khách quan” (khoản 3 Điều 5) và quy định người bào chữa ngoài trách nhiệm áp dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của khách hàng thì còn có nghĩa vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ Hiến pháp và tuân thủ pháp luật. Trường hợp người bào chữa cố tình cung cấp tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật (được coi là biện pháp không hợp pháp) làm ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự như những người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng khác. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

3. Về các ý kiến khác

a) Có ý kiến đề nghị Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152) cần bổ sung hình phạt “cấm hành nghề vĩnh viễn” đối với trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp chăm sóc trẻ em để phạm tội.

UBTVQH nhận thấy, Điều 41 của BLHS năm 2015 chỉ quy định về “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” và được áp dụng đối với các tội phạm có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

b) Có ý kiến cho rằng quy định tại điểm b khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không rõ ràng về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có sự chồng lấn về độ tuổi.

UBTVQH nhận thấy, trên cơ sở sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi, BLHS đã có sự phân hóa để xử lý hành vi phạm tội. Theo đó, trường hợp giao cấu với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi (kể cả trường hợp có sự đồng ý của người đó) có thể bị xử phạt đến 15 năm tù, giao cấu với người dưới 10 tuổi có thể xử phạt đến tử hình. Đồng thời, quy định tại điểm c khoản 3 Điều này cũng đã gián tiếp loại trừ trường hợp người dưới 10 tuổi tại điểm b khoản 1 Điều này. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

c) Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn hành vi vi phạm quy chế về khu vực biên giới của Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới (Điều 346 của BLHS năm 2015); đồng thời giảm mức hình phạt tiền cho phù hợp với vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

UBTVQH nhận thấy, hành vi nào được coi là vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc quy định khác về khu vực biên giới đã được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật cư trú, Luật biên giới quốc gia, quy chế về khu vực biên giới biển, quy chế về khu vực biên giới đất liền... do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nên BLHS năm 2015 quy định viện dẫn là phù hợp. Đối với hình phạt tiền được áp dụng cũng phải bảo đảm phù hợp với các điều kiện đã được Điều 35 của Bộ luật này quy định “có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội”. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của BLHS năm 2015.

d) Có ý kiến đề nghị sửa lại Điều 386 Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử thành “Tội trốn khỏi nơi đang bị tạm giữ, tạm giam theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc đang chấp hành án phạt tù” và sửa lại nội dung khoản 1 Điều này.

UBTVQH nhận thấy, Điều 386 của BLHS năm 2015 không chỉ điều chỉnh hành vi trốn khỏi nơi đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc thi hành án, mà còn điều chỉnh cả hành vi trốn khi đang bị áp giải, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp... Tuy nhiên, tên gọi cũng như khoản 1 Điều này cũng chưa bao quát hết các trường hợp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý bổ sung thêm đối tượng là người đang bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tên điều luật và khoản 1 Điều này.

III. Ngoài các vấn đề trên, UBTVQH đã chỉ đạo UBTP phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp thu nhiều ý kiến của các vị ĐBQH, các bộ, ngành và các cơ quan chuyên môn để chỉnh lý dự thảo Luật, khắc phục các sai sót cũng như các quy định gây khó hiểu hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau, khó áp dụng trên thực tiễn và hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp.

Trên đây là Báo cáo tiếp thu chỉnh lý, giải trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trân trọng báo cáo Quốc hội./

Nơi nhận:

- Như trên;

- Lưu: HC, TP.Epas:

 

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Uông Chu Lưu

.

Dự thảo Báo cáo tiếp thu chỉnh lý, giải trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

Loại văn bản Luật
Cơ quan soạn thảo
Ngày soạn thảo 17/07/2018
Ngày hết hạn lấy ý kiến

Dự thảo Báo cáo tiếp thu chỉnh lý, giải trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

Góp ý dự thảo

Nội dung góp của bạn đã được gửi đi thành công! Xin cảm ơn.
Lượt xem: 172

HỆ THỐNG VĂN BẢN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Cổng TTĐT Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ vbpq.toaan.gov.vn.

ácdscv